Trang chủ
Liên kết Website
HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ - HỘI CHỮ THẬP ĐỎ Bản in
 
MỘT SỐ VĂN BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM
Tin đăng ngày: 21/12/2012 - Xem: 1138
 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ nhất

MỘT SỐ VĂN BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

VỀ HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

-----------------

Số 14-CT-TW

Hà Nội, ngày 7 - 9 - 1987

 

 

 

Chỉ thị

VỀ VIỆC CỦNG CỐ TỔ CHỨC, PHÁT HUY

TÁC DỤNG TÍCH CỰC CỦA HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

 


         

 

Từ ngày thành lập đến nay, được sự chăm sóc của Hồ Chủ tịch và sự lãnh đạo của Đảng, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân, phục vụ chiến đấu và thực hiện một số chính sách xã hội. Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc ở nhiều địa phương nhất là phía Nam, Hội đã có nhiều cơ sở hoạt động tốt, có tác dụng thiết thực, Hội cũng đã góp phần thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, tranh thủ được viện trợ nhân đạo trong việc khắc phục những hậu quả chiến tranh và thiên tai.

          Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Hội cần phát huy những ưu điểm và khắc phục những mặt còn yếu kém, còn hình thức, thực hiện được sử chỉ đạo thống nhất trong phạm vi cả nước, làm tốt việc phối hợp giữa Hội với các ngành và đoàn thể có liên quan.

Ban Bí thư chỉ thị một số vấn đề để định hướng cho công tác của Hội trong những năm tới và để chuẩn bị triệu tập Đại Hội toàn quốc lần thứ V của Hội, các cấp uỷ Đảng cần nắm vững để chỉ đạo thực hiện chu đáo.

          A. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, thành viên của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, thành viên của Hiệp Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, là một tổ chức xã hội của quần chúng làm công tác nhân đạo xã hội chủ nghĩa.

          Những nhiệm vụ chủ yếu của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là:

          1. Góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cụ thể là: tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những kiến thức y học thường thức trong Hội viên và nhân dân, trước hết là Hội viên tham gia tích cực phong trào vệ sinh làm sạch môi trường, phòng bệnh, phòng và chống dịch, các bệnh xã hội, săn sóc người bệnh tại nhà; thực hiện kế hoạch hoá gia đình; thực hiện nuôi trồng và sử dụng cây thuốc nam ở cơ sở; hiến máu cứu người; tổ chức sơ cứu, cấp cứu ban đầu kịp thời, tại chỗ khi xảy ra tai nạn.

          2. Góp phần thực hiện chính sách xã hội, cụ thể là: vận động các hội viên phát huy tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia chăm sóc, giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người về hưu hoặc mất sức lao động, những trẻ mồ côi, những người già cô đơn, những người tàn tật gặp khó khăn trong cuộc sống, đoàn kết thương yêu, giúp đỡ nhau khi có thiên tai, địch hoạ, tìm kiếm tin tức người thân và gia đình bị mất liên lạc. Phối hợp với Hội Chữ thập đỏ các nước, chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tích cực đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới vì sự tiến bộ của phong trào Chữ thập đỏ quốc tế, tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc, đồng thời tranh thủ sự viện trợ nhân đạo của thế giới.

          Thông qua việc thực hiện những nhiệm vụ trên đây của Hội để góp phần giáo dục hội viên tinh thân yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tình thương yêu giai cấp, lòng nhân đạo xã hội chủ nghĩa, ý thức cảnh giác cách mạng, góp phần vào việc xây dựng con người mới và nếp sống xã hội chủ nghĩa.

          B. Cần phát triển và củng cố tổ chức của Hội.

          Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được tổ chức theo hệ thống 4 cấp: Trung ương, tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; chi hội cơ sở.

          Hội cần hết sức coi trọng xây dựng tổ chức và tăng cường hoạt động của các chi hội cơ sở, bảo đảm thực hiện có kết quả những công tác thiết thực của Hội, tránh hình thức. Mỗi địa phương cần có kế hoạch để phát triển chi hội cơ sở, từng bước tiến tới cứ 3-5 gia đình, nơi phong trào khá thì mỗi gia đình có 1 hội viên hoạt động cho Hội. Cần tổ chức tổng kết và có kế hoạch để mở rộng các điển hình tiên tiến thuộc các cơ sở của Hội.

          Ban Chấp hành các cấp Hội gồm đại biểu các ngành và các đoàn thể quần chúng có liên quan là những người nhiệt tình, được quần chúng tín nhiệm và có điều kiện hoạt động cho Hội. Ở Trung ương, Đại hội lần thứ V của Hội sẽ bầu lại Ban Chấp hành Trung ương Hội đủ sức chỉ đạo thống nhất Hội trong phạm vi cả nước.

          Ban Chấp hành Hội của tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, xã phường phải có cán bộ chuyên trách, nửa chuyên trách do Trung ương Hội và Uỷ ban nhân dân địa phương quy định tuỳ theo nhu cầu công tác và khả năng ngân sách của địa phương và Quỹ Hội. Ngành Y tế ở mỗi cấp phân công một số cán bộ có năng lực và được tín nhiệm tham gia Ban Chấp hành để làm công tác Hội.

          C. Cần tăng cường mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Hội Chữ thập đỏ với các ngành và đoàn thể khác.

          Nhất là với ngành Y tế và ngành Thương binh - Xã hội để làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ, thực hiện tốt các chính sách xã hội, phục vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, với Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các ngành giáo dục để phát triển thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ trong trường học. Ngành Y tế và ngành Thương binh - Xã hội các cấp phải dựa vào Hội, phối hợp và tạo điều kiện cho Hội hoạt động.

         

 

D. Hội Chữ thập đỏ ở cấp nào đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng cấp đó.

           Ban Khoa giáo, Ban Tuyên giáo các cấp có trách nhiệm giúp đỡ các cấp uỷ Đảng theo dõi hướng dẫn, kiểm tra công tác Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Ban Dân vận có trách nhiệm phối hợp với Ban Khoa giáo, Ban Tuyên giáo giúp đỡ các cấp Hội.

          Về mặt đối ngoại: Hội Chữ thập đỏ chịu sự hướng dẫn của Ban đối ngoại và Bộ Ngoại giao. Hội có trách nhiệm thực hiện các Nghị quyết của Mặt trận tổ quốc Việt Nam như các tổ chức thành viên khác.

 

                                                TM BAN BÍ THƯ

 

                                                 (Đã ký)

 

                                                  Đỗ Mười

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG                       Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 1992

                 *****           

             VĂN PHÒNG                     

        Số 883-CV/VPTW                                

 

                             Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Trọng Nhân

 

          Về chủ trương lập Quỹ nhân đạo (tại công văn số 471 ngày 15/10/1992 của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam), Thường trực Bộ Chính trị - Ban Bí thư có ý kiến như sau:

          Đồng ý lập Quỹ nhân đạo nhưng không mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

          Xin thông báo để đồng chí biết.

 

                                                                    K/T CHÁNH VĂN PHÒNG

 

                                                                                 Đã ký

 

                                                                             Đinh Hữu Khoá

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG                        Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 1996

                 *****                                        

          Số 01-TT/TW             

            

THÔNG TRI

Về việc tăng cường lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

 

          Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là một tổ chức xã hội – nhân đạo, có vị trí, vai trò quan trọng. Hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 23/11/1946 và làm Chủ tịch danh dự đầu tiên.

          Từ ngày thành lập đến nay, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã có nhiều cố gắng vận động nhân dân tích cực tham gia hoạt động nhân đạo, vì đời sống và sức khoẻ nhân dân, giúp đỡ thiết thực những người khó khăn, bất hạnh. Hội đã đóng góp xứng đáng vào việc duy trì và phát triển truyền thống nhân ái của dân tộc, triển khai có hiệu quả nhiều chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Thông qua các hoạt động nhân đạo, Hội đã góp phần giáo dục hội viên và nhân dân tinh thần yêu nước, tình nghĩa đồng bào, nâng cao nhân thức về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hội có nhiều hoạt động tích cực trong việc mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ viện trợ nhân đạo của Hội Chữ thập đỏ các quốc gia và các tổ chức phi Chính phủ, góp phần khắc phục hậu quả thiên tai và chiến tranh, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc.

          Để đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, phát huy vai trò của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ đảng thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau đây :

          1. Lãnh đạo tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp nhân đạo, nâng cao tinh thần tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách, giữ gìn và phát huy truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc. Trong tuyên truyền kết quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 50 năm qua cần chú ý biểu dương những điển hình tiên tiến, những đơn vị và cá nhân có nhiều đóng góp cho công tác nhân đạo.

          2. Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo. Động viên nhân dân tích cực hưởng ứng phong trào thi đua “làm nhiều việc thiện”, đóng góp xây dựng các quỹ tình thương, góp phần thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ mồ côi, lang thang, cơ nhỡ, người già yếu cô đơn, nạn nhân chiến tranh; người tàn tật và người gặp rủi ro… Trước mắt cần làm tốt việc vận động nhân dân cả nước, các tổ chức quốc tế hỗ trợ đồng bào các vùng bị bão lụt vừa qua khắc phục hậu quả thiên tai, sớm ổn định cuộc sống và sản xuất.

          3. Nội dung hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam mang tính chất xã hội và cộng đồng, vì vậy cần lãnh đạo Hội tập trung hướng về cơ sở, bám sát hoạt động thực tiễn, đời sống, sức khoẻ của nhân dân, tương trợ, hỗ trợ đúng đối tượng, chống các hiện tượng lợi dụng hoạt động nhân đạo, từ thiện tham ô tiền bạc, đóng góp của nhân dân và hàng viện trợ của nước ngoài.

          4. Các cấp uỷ đảng thường xuyên chỉ đạo hoạt động của các cấp Hội, tạo điều kiện để Hội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

          5. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp có những biện pháp tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện về mọi mặt để Hội phát huy tốt vai trò nòng cốt trong công tác nhân đạo, góp phần thực hiện tốt chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, giữ gìn và phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc.

          6. Năm nay kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội, các cấp uỷ đảng cần lãnh đạo các cấp Hội tổ chức tốt kễ kỷ niệm với tinh thần thiết thực, tiết kiệm. Coi trọng việc lãnh đạo tổ chức các phong trào thi đua hành động nhân đạo ở cơ sở và xây dựng Hội vững mạnh. Động viên, biểu dương kịp thời những gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến trong hoạt động nhân đạo những năm qua.

          Các tỉnh, thành uỷ, các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn phối hợp lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ nêu trên.

 

                                                                                      T/M BỘ CHÍNH TRỊ

Nơi nhận:

- Các tỉnh, thành uỷ;

- Các ban, ban cán sự đảng;                                                                         (Đã ký)

 đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc TW;

- Các đồng chí uỷ viên BCH TW Đảng;

 - Lưu VP Trung ương.                                                              Lê Khả Phiêu

                                               

 

 

 

 

 

 

 

 

 


BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG                            ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

                  *                                               

         Số 124-TB/TW                                    Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 1998

 

Thông báo kết luận của Thường vụ Bộ Chính trị

về việc tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 14 của Ban Bí thư TW Đảng khoá VI

về công tác của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

 

          Ngày 24-3-1998, sau khi nghe đại diện Đảng Đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam báo cáo về tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 14-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI “Về củng cố tổ chức, phát huy tác dụng tích cực của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam”, Thường vụ Bộ Chính trị đã thảo luận và kết luận như sau:

          1- Nhất trí với báo cáo tổng kết của Đảng Đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam về kết quả 10 năm thực hiện Chỉ thị 14-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI (kèm theo văn bản này).

          2- Từ khi thành lập đến nay, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ngày càng phát triển và trưởng thành, đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đặc biệt trong 10 năm thực hiện Chỉ thị 14-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI), hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và sự nghiệp nhân đạo đã có những chuyển biến, tiến bộ:

          Đã tạo được sự chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm của nhiều cấp uỷ đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vị trí, vai trò và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ và sự nghiệp nhân đạo. Tổ chức của Hội được củng cố, kiện toàn và phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hoạt động của Hội tuy còn có khó khăn, nhưng Hội đã phát huy tính tích cực, chủ động phấn đấu vươn lên đã đạt nhiều kết quả thiết thực. Hội đã tập hợp ngày càng đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia hoạt động nhân đạo, từ thiện, mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ viện trợ quốc tế. Hoạt động của Hội đã góp phần thực hiện tốt chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, khơi dậy và phát huy đạo lý, truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, được nhân dân ghi nhận và ngày càng trở thành nhu cầu của quần chúng.

          Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các cấp uỷ đảng cần tập trung chỉ đạo thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:

          a- Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Chỉ thị 14-CT/TW và các văn bản của Đảng về công tác Chữ thập đỏ, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành, các cấp và quần chúng nhân dân về việc phát huy truyền thống nhân ái, nhân đạo của dân tộc. Các cấp uỷ đảng tăng cường lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ thông qua đảng đoàn và tổ chức đảng, định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến về định hướng hoạt động của Hội; chỉ đạo các cấp chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể phối hợp và tạo các điều kiện cần thiết cho Hội hoạt động; huy động cán bộ, đảng viên gương mẫu tham gia hoạt động nhân đạo, thông qua đó để làm tốt công tác quần chúng, tạo niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với chế độ. Coi trọng việc sơ kết, tổng kết, phát hiện những nhân tố mới, những bất hợp lý để bổ sung hoàn thiện các chính sách đối với Hội.

          b- Kiện toàn tổ chức Hội Chữ thập đỏ đủ sức làm tham mưu giúp cấp uỷ đảng và nhất là tổ chức Hội cơ sở làm nòng cốt trong công tác nhân đạo.

          c- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội theo hướng xã hội hoá, đa dạng hoá, công khai, dân chủ, đúng pháp luật. Tổ chức nhiều hình thức, biện pháp linh hoạt, sáng tạo, tạo dựng nhiều mô hình hoạt động, đáp ứng nhu cầu của cán bộ, hội viên và nhân dân nhằm tăng cường khả năng thu hút, tập hợp nhân dân tham gia hoạt động nhân đạo, từ thiện, chăm lo thiết thực đời sống và sức khoẻ nhân dân, trợ giúp các đối tượng khó khăn, bất hạnh, nạn nhân chiến tranh, nhất là nạn nhân chất độc da cam. Hoạt động cứu trợ, giúp đỡ của Hội cần hướng vào việc tạo điều kiện để các đối tượng khó khăn, bất hạnh tự vươn lên hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng.

          d- Tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của Hội nhằm tranh thủ sự giúp đỡ nhân đạo của phong trào Chữ thập đỏ quốc tế và các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế đối với nhân dân ta thông qua Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Nâng cao hiệu quả viện trợ, vừa thực hiện có kết quả theo chương trình, vừa gắn với việc thúc đẩy phong trào. Hội cần tích cực, chủ động tham gia hoạt động trong phong trào Chữ thập đỏ quốc tế, nhất là các nước trong khu vực, góp phần thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

          đ- Hội Chữ thập đỏ nghiên cúư, tổng kết trình Chính phủ thể chế hoá các quan điểm chủ trương của Đảng về tổ chức hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

          3- Đồng ý để Hội Chữ thập đỏ Việt Nam nhận đăng cai tổ chức hội nghị Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ Châu Á - Thái Bình Dương tại Việt Nam vào năm 1998, nhưng phải chuẩn bị chu đáo, bảo đảm an toàn, hiệu quả.

          4- Chính phủ nghiên cứu bố trí trụ sở cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và quyết định thành lập Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam trực thuộc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

          Hội Chữ thập đỏ Việt Nam nghiên cứu trình Chính phủ chế độ trích tỷ lệ kinh phí viện trợ, cứu trợ phục vụ hoạt động của Hội.

          Các tỉnh, thành uỷ, các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương căn cứ kết luận này triển khai thực hiện. Đảng đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Ban Dân vận Trung ương tổ chức triển khai, theo dõi việc thực hiện kết luận này và định kỳ báo cáo Thường vụ Bộ Chính trị.

                                                             T/M THƯỜNG VỤ BỘ CHÍNH TRỊ

                                                                                  đã ký

                                                                            Phạm Thế Duyệt

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

*****

ĐẢNG ĐOÀN HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

--------------

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 1998

 

 

BÁO CÁO TỔNG KẾT

10 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ 14 - CT/TW CỦA BAN BÍ THƯ

TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHOÁ VI) “VỀ VIỆC CỦNG CỐ TỔ CHỨC, PHÁT HUY TÁC DỤNG TÍCH CỰC CỦA HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

 

          Ngày 7 tháng 9 năm 1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) đã ra Chỉ thị 14-CT/TW “Về việc củng cố tổ chức, phát huy tác dụng tích cực của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Đây là Chỉ thị đầu tiên của Trung ương Đảng về công tác Chữ thập đỏ, nhằm định hướng những vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Qua 10 năm thực hiện Chỉ thị, sự nghiệp nhân đạo và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã đạt được những kết quả thiết thực, góp phần vào việc thực hiện chính sách xã hội và công cuộc đổi mới đất nước.

          Đến nay, cách mạng nước ta đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Cùng với việc tổng kết 10 năm đổi mới, Thường vụ Bộ Chính trị chủ trương tiến hành tổng kết, đánh giá việc quán triệt và chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 14-CT/TW, làm rõ những kết quả đã đạt được, những vấn đề còn tồn tại cần quan tâm giải quyết. Trên cơ sở đó có những chủ trương, giải pháp đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện, nhằm phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, góp phần giải quyết tốt nhất những vấn đề xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng.

 

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

SAU 10 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ 14-CT/TW

 

            I. Tình hình triển khai chỉ thị và sự lãnh đạo của Đảng với công tác chữ thập đỏ.

          Trước khi có Chỉ thị 14 phong trào Chữ thập đỏ mới phát triển và hoạt động mạnh ở các tỉnh, thành phía Nam, tổ chức Hội các tỉnh, thành phía Bắc phần lớn mới phát triển đến cấp tỉnh nhưng chủ yếu làm công tác hành chính, tiếp nhận và phân phối viện trợ; Hội chưa thực hiện được quản lý, chỉ đạo thống nhất phong trào trong cả nước. Tổ chức và hoạt động của Hội nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn mà bản thân Hội không giải quyết nổi và đã nhiều năm kiến nghị, đề xuất với Đảng và Nhà nước nhưng chưa được quan tâm giải quyết.

          Trước tình hình đó, ngày 7/9/1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) đã ra Chỉ thị 14-CT/TW “Về việc củng cố tổ chức, phát huy tác dụng tích cực của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam” nhằm xác định lại cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và đẩy mạnh hoạt động nhân đạo-xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước.

          Nhận rõ vị trí, tầm quan trọng của Chỉ thị 14, nhiều cấp Uỷ Đảng đã có kế hoạch và biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt và triển khai Chỉ thị nghiêm túc và kịp thời.

          - Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị ở 2 khu vực phía Bắc và phía Nam để quán triệt và phổ biến kế hoạch triển khai Chỉ thị tới các tỉnh, thành uỷ và Hội Chữ thập đỏ các tỉnh, thành.

          - Cuối năm1987 và đầu năm 1988, hầu hết các tỉnh, thành và quận, huyện uỷ đã ra Thông tri hướng dẫn việc thi hành Chỉ thị và triệu tập Hội nghị để quán triệt, triển khai thực hiện. Đến đầu năm 1988 đã có 10 tỉnh, thành uỷ ra Chỉ thị về công tác Chữ thập đỏ (An Giang, Cửu Long, Đồng Nai, Gia Lai - Kon Tum, Thái Bình, Thanh Hoá, Sơn La, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh, Hải Hưng). 15 tỉnh đến năm 1992-1995 mới có Chỉ thị của cấp uỷ về công tác Chữ thập đỏ.

          - Sau khi có Chỉ thị, các cấp Uỷ Đảng đã tăng cường hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác Chữ thập đỏ. Tiếp theo Chỉ thị 14, Bộ Chính trị đã ra Thông báo số 68 (4/1994), Thông tri 01 (9/1996), công văn số 46 (8/1997), tiếp tục cụ thể hoá các quan điểm và sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác Chữ thập đỏ. Đến nay, 100% các tỉnh, thành uỷ đã có Nghị quyết, Chỉ thị và văn bản chỉ đạo về công tác Hội. Các cấp uỷ Đảng đã tăng cường cán bộ, đảng viên trực tiếp tham gia lãnh đạo Hội; Đồng chí cố vấn Đỗ Mười và 15 đồng chí Bí thư tỉnh uỷ làm Chủ tịch danh dự của Hội. Nhiều cấp uỷ viên ở cấp quận, huyện và cơ sở được Đảng cử trực tiếp làm công tác Hội. 100% cơ quan tỉnh, thành Hội có chi bộ; Trung ương Hội và 21 tỉnh, thành Hội có Đảng Đoàn.

          - Nhiều cấp uỷ Đảng đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo việc củng cố tổ chức và hoạt động của Hội; chỉ đạo các cấp Chính quyền và các đoàn thể phối hợp với Hội trong công tác nhân đạo, từ thiện và hỗ trợ các điều kiện cần thiết cho Hội hoạt động. Một số cấp uỷ cơ sở đưa vào Nghị quyết 100% Đảng viên phải tham gia hoạt động trong tổ chức Chữ thập đỏ và đưa việc xây dựng Hội Chữ thập đỏ vào tiêu chuẩn bình xét danh hiệu chi bộ, đảng bộ vững mạnh.

          - Quá trình thực hiện đã có 4 tỉnh (Thái Bình, Hải Hưng, Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú) tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 14; 32 tỉnh, thành uỷ mở Hội nghị chuyên đề bàn về công tác Chữ thập đỏ để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo về Hội được sát, đúng. Từ tháng 8/1997 đến nay đã có 60/61 tỉnh, thành thực hiện tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị một cách sâu rộng từ cơ sở trở lên, là một đợt tiếp tục quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác Hội.

         

 

 

II. Những kết quả chủ yếu đạt được sau 10 năm thực hiện chỉ thị 14-CT/TW.

          A. Về củng cố , phát triển tổ chức Hội:

          Quán triệt và thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố và phát triển tổ chức Hội, các cấp uỷ Đảng đã lãnh đạo Hội tập trung thực hiện tốt một số việc sau:

          * Đã thống nhất quản lý, chỉ đạo phong trào Chữ thập đỏ trong cả nước, các địa phương có nhiều hoạt động gắn bó, chi viện giúp nhau trong hoạt động nhân đạo:

          Sau khi có Chỉ thị 14, Ban Bí thư đã chỉ đạo Hội Chữ thập đỏ tích cực chuẩn bị về mọi mặt để tiến hành Đại hội nhiệm kỳ V vào tháng 3/1988 (sau 17 năm không tổ chức Đại hội được) và Đại hôi VI (tổ chức tháng 3/1995). Qua 2 kỳ Đại hội, cơ quan lãnh đạo của Hội (Đảng Đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội) và cán bộ chủ chốt của Hội được tăng cường về số lượng và chất lượng. Hội đã tích cực, chủ động trong việc quản lý, chỉ đạo thống nhất phong trào Chữ thập đỏ trong cả nước. Hoạt động Chữ thập đỏ ở các địa phương đã phát triển, vươn lên khá đều ở các khu vực. Các địa phương đã có nhiều hoạt động thiết thực để chi viện, giúp đỡ lẫn nhau trong lúc thiên tai, hoạn nạn. Hội đã có nhiều tiến bộ trong việc phát huy sự gắn bó, cộng đồng trách nhiệm và sức mạnh tổng hợp của các địa phương trong phong trào Chữ thập đỏ của cả nước.

          * Tổ chức Hội, nhất là cấp cơ sở phát triển ngày càng sâu rộng: Số lượng, chất lượng Hội viên, thanh thiếu niên Chữ thập đỏ được nâng lên; Hội ngày càng thu hút đông đảo các tầng lớp nhấn dân tham gia các hoạt động nhân đạo.

          Các cấp uỷ Đảng đã quan tâm chỉ Hội Chữ thập đỏ có những chủ trương, biện pháp tích cực, chủ động trong việc củng cố, kiện toàn, phát triển tổ chức của Hội (điều tra, khảo sát, phân loại tổ chức, chỉ đạo điểm từng khu vực, từng loại hình, đầu tư cho việc tổng kết, nâng dần các cơ sở yếu kém lên khá). Hội đã nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về vai trò, vị trí của Hội cơ sở, vì vậy đã phát động và tập trung thực hiệm tốt cuộc vận động “Xây dựng Hội cơ sở vững mạnh”, đồng thời tích cực tham gia công tác tuyên truyền, vận động để phát triển Hội ở vùng sâu, vùng xã, địa bàn khó khăn chưa có tổ chức Hội.

          Trước sự phát triển của phong trào, Hội đã điều chỉnh một bước cơ cấu tổ chức, chuyển Chi Hội cấp xã, phường thành cấp Hội cơ sở, tổ chức Hội trong các trường tiểu học, trường PTCS thành Chi Hội trực thuộc Hội cơ sở xã, phường. Nhiều địa phương đã thành lập các Chi Hội tán trợ, Chi Hội danh dự Ban bảo trợ Chữ thập đỏ, đội thể thao, văn nghệ, nhóm công tác xã hội của Chữ thập đỏ v.v... nhằm đa dạng hoá các loại hình tập hợp và phát huy mọi khả năng tham gia công tác nhân đạo của các tầng lớp nhân dân.

          Với những cố gắng, nỗ lực nêu trên, tổ chức Hội đã được củng cố, kiện toàn, phát triển sâu rộng trong cả nước, số lượng Hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ ngày càng tăng, chất lượng tổ chức Hội và cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ ngày càng được nâng lên rõ rệt.

          Đến nay, 100% các tỉnh, thành, quận, huyện và 85% xã, phường có tổ chức Hội; đã phát triển thêm tổ chức Hội ở 125 Trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và 1.879 cơ quan, xí nghiệp, công nông, lâm trường. Hiện nay, Hội có 4,5 triệu Hội viên, 2,3 triệu thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ (so với năm 1987 tổ chức Hội cơ sở tăng 49%, quận, huyện Hội tăng 21%; tỷ lệ Hội cơ sở đạt tiên tiến tăng 30%, phát triển thêm 1,8 triệu Hội viên và 2,2 triệu thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ.

          * Tổ chức bộ máy và cán bộ của Hội ở các cấp được tăng cường, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã có những tiến bộ đáng kể.

          Nhiều cấp uỷ Đảng đã chú trọng chỉ đạo xây dựng cơ quan lãnh đạo của Hội (Ban Chấp hành, Ban Thường vụ), cử cán bộ, đảng viên có uy tín trực tiếp làm công tác Hội. Cùng với số cán bộ chuyên trách của Hội, các cấp uỷ Đảng đã chỉ đạo tăng cường thêm các thành phần: Đại diện các Ban, Ngành, Đoàn thể, Nhân sỹ, trí thức, đại diện các Tôn giáo, công thương giam các nhà hảo tâm, những người có uy tín trong xã hội tham gia Ban Chấp hành (thành phần mở rộng của Trung ương Hội là 55,8%, cấp tỉnh là 43%, cấp quận, huyện là 52%). Qua thực tiễn hoạt động, nhìn chung các cơ quan lãnh đạo của Hội đã phát huy tác dụng trong việc nâng cao uy tín và khả năng đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia công tác nhân đạo-xã hội. Đội ngũ cán bộ chuyên trách ở các cấp được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, hiện nay toàn Hội có 1.482 cán bộ biên chế, chuyên trách tăng 975 người so với năm 1987.

          Hội đã tích cực, chủ động khắc phục nhiều khó khăn trong việc đào tạo, tập huấn cán bộ; biên soạn tài liệu, mở rộng các loại hình đào tạo, tấp huấn (mở các lớp tập trung, tập huấn theo từng cụm, từng khu vực, bồi dưỡng chuyên đề tại cơ sở, tham quan thực tiễn, học tập kinh nghiệm các cấp Hội quốc gia, cung cấp thông tin, tư liệu... ). 10 năm qua, các cấp Hội đã mở 76.209 lớp tập huấn cho 5.335 lượt cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ. Từ năm 1995 đến nay, 100% cán bộ chủ chốt từ cấp quận, huyện trở lên và 50% cán bộ Hội cơ sở được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội.

          Tuy nhiên việc củng cố, xây dựng tổ chức Hội còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại là: Việc phát triển tổ chức Hội ở các trường học, cao đẳng, cơ quan, xí nghiệp, vùng sâu, vùng xa còn chậm. Số lượng và chất lượng cán bộ Hội ở cả 4 cấp còn thiếu và còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Việc tổng kết và nhân các điển hình tiên tiến chưa được nhiều.

          B. Về kết quả hoạt động của Hội.

          Nhìn chung hoạt động của Hội đã quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và bám sát nhu cầu thực tiễn của nhân dân. Bằng nhiều nội dung, phương thức hoạt động đa dạng, phong phú, phong trào Chữ thập đỏ ngày càng phát triển rộng khắp, tập hợp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, giúp đỡ hàng triệu người khó khăn bất hạnh khắc phục khó khăn, ổn định đời sống. Kết quả hoạt động của Hội ngày càng cao, hiệu quả ngày càng thiết thực; từ năm 1990-1997 Hội đã tuyên truyền, vận động trong và ngoài nước 932 tỷ đồng (vận động trong nước chiếm 78%) để góp phần chăm sóc sức khoẻ và đời sống của nhân dân; gấp 12 lần kinh phí Nhà nước đầu tư cho các cấp Hội. Nếu so với năm 1990 thì hiệu quả hoạt động của Hội năm 1995 tăng 8 lần, năm 1996 tăng 12 lần, năm 1997 tăng gấp 15 lần. Hoạt động của Hội được nhân dân thừa nhận và ngày càng gắn bó, trở thành nhu cầu thiết thân của quần chúng. Kết quả hoạt động của Hội trong 10 năm qua được thể hiện qua những hoạt động chủ yếu sau:

          1. Công tác xã hội và phòng chống giảm nhẹ thiên tai:

          * Phong trào tương thân, tương ái ngày càng phát triển sâu rộng ở cơ sở với nhiều hình thức mới đã đem lại hiệu quả thiết thực, đang dần trở thành nét đẹp trong đời sống xã hội.

          Trước tình hình đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, các cấp uỷ Đảng và Trung ương Hội đã chỉ đạo toàn Hội lấy công tác xã hội làm trọng tâm; chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, phát huy lòng nhân ái trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là phong trào tương thân, tương ái, giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau tại cộng đồng đã từng bước được phát huy:

          Các cấp Hội đã phát động các phong trào thi đua làm việc thiện với qui mô sâu rộng như: “Tết vì người nghèo”, “Vì nạn nhân chiến tranh, vì người có công với nước”; khẩu hiệu hành động “Người người làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện, ngành ngành làm việc thiện” đã được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, đem lại hiệu quả to lớn trong cộng đồng. Từ năm 1990-1997 hoạt động xã hội của Hội đạt 690 tỷ đồng, các cấp Hội đã nuôi dưỡng trên 32.000 người già tàn tật, trẻ em mồ côi, phụng dưỡng, chăm sóc 1.500 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hàng ngàn mộ liệt sỹ được phát hiện và qui tập v.v. Lòng nhân ái, lối sống tình nghĩa đang được khơi dậy và trở thành nét đẹp trong đời sống xã hội.

          * Nhiều công trình nhân đạo đươc xây dựng để phục vụ sinh hoạt và đời sống của nhân dân:

          - Các cấp Hội đã vận động nhân dân và huy động các nguồn lực để xây dựng nhiều công trình nhân đạo phục vụ những người nghèo khó và bất hạnh: 59 lớp học tình thương; 25 trường nuôi dạy trẻ em khuyết tật; 31 cơ sở nuôi trẻ em mồ côi; 89 cơ sở nuôi dưỡng người già cô đơn; 287 tổ cấp cơm, cháo, nước sôi miễn phí giúp người nghèo; 2.908 đội trợ táng; 1.574 trại hòm nhân đạo. Hội đã vận động nhân dân đóng góp và tổ chức lực lượng để thi công 65.057 cây cầu Chữ thập đỏ (thay cầu khỉ) và bồi lộ, đắp đường 42.133 km, xây dựng mới và sửa chữa 453.684 ngôi nhà tình nghĩa, thiết thực phục vụ sinh hoạt và cuộc sống của nhân dân.

          * Công tác phòng chống thiên tai và cứu trợ ngày càng chủ động, kịp thời và hiệu quả:

          - Trong công tác phòng, chống giảm nhẹ thiên tai, các cấp Hội đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động trước, trong và sau thiên tai: Tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho 600 Đội thanh niên xung kích để làm nhiệm vụ di dời, sơ tán, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, cứu trợ phục hồi sau thiên tai; triển khai xây dựng 40 Trung tâm phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai ở 20 tỉnh trọng điểm với kinh phí 13 tỷ đồng; thực hiện chương trình trồng rừng ngập mặn để hạn chế tác hại của bão biển ở 12 huyện của 8 tỉnh với 9.500 ha. Kinh phí đầu tư trên 2 triệu USD.

          Trong những năm gần đây, Hội đã có nhiều hoạt động nhanh nhạy, kịp thời, có hiệu quả khi thiên tai, lũ lụt xảy ra. Đã có 13 triệu lượt cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ xung kích nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, đã cứu trợ, giúp đỡ trên 19 triệu lượt người các vùng thiên tai, bão lụt với gần 264 tỷ đồng, hơn 71.000 tấn lương thực, thực phẩm.

          Công tác xã hội và phòng chống giảm nhẹ thiên tai còn hạn chế là: Nhiều điển hình trong công tác xã hội chưa được tổng kết và nhân rộng. Một số Trung tâm phòng chống, giảm nhẹ thiên tai chưa phát huy tốt hiệu quả trong hoạt động.

          2. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân:

            Các cấp uỷ Đảng đã chỉ đạo Ngành Y tế phối hợp chặt chẽ với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, trọng tâm là chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Hội Chữ thập đỏ đã có nhiều hoạt động linh hoạt, sáng tạo để thực hiện nhiệm vụ.

          * Công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ và hoạt động phòng bênh, phòng dịch được tăng cường:

          - Lấy công tác giáo dục sức khoẻ nhân dân làm trọng tâm, hàng năm các cấp Hội thường xuyên có trên 1 triệu lượt cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ làm công tác tuyên truyền để nâng cao hiểu biết y học thường thức cho trên 41 triệu lượt người. Vận động nhân dân thực hiện vệ sinh, phòng bệnh và thực hiện tốt các đợt tiêm phòng, chống dich, thực hiện các chương trình: cung cấp nước sạch, uống sinh tố A, phòng chống sốt rét, bướu cổ, phòng chống HIV/AIDS. Hội đã cấp trên 2,3 triệu chiếc màn tẩm thuốc phòng chống sốt rét cho đồng bào các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa.

          - Trong công tác phòng, chống dịch, hội viên và thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ là người tích cực cùng cán bộ, nhân viên Y tế thực hiện phun thuốc, diệt chuột, tiêm phòng các bệnh nguy hiểm cho trẻ em, thanh toán bại liệt, đồng thời cũng là những người phát hiện sớm và góp phần tích cực dập tắt dịch.

          * Nhiều hình thức chăm sóc sức khoẻ nhân dân được phát triển, phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu thường xuyên, tại chỗ của nhân dân:

           Đề đáp ứng nhu cầu tri bệnh thông thường, tại chỗ cho nhân dân với phương trâm “Thầy tại chỗ, thuốc tại nhà”, các cấp Hội đã tổ chức 2.867 phòng thuốc Nam miễn phí; 633 Phòng khám nhân đạo Tây y hoặc kết hợp Đông - Tây y; 6.900 trạm, chốt sơ cấp cứu. Nhiều địa phương đã thành lập tổ Thầy thuốc tự nguyện, đội lưu động để khám trị bệnh cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, ngày khám bệnh nhân đạo tại cơ sở. Từ năm 1990 đến nay, giá trị hoạt động chăm sóc sức khoẻ của Hội đạt khoảng 148,7 tỷ đồng, khám chữa bệnh miễn phí cho 70.424.356 lượt người, cấp thuốc miễn phí trên 90 tỷ đồng, sơ cấp cứu cho hàng triệu lượt người.

          Hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân còn nhiều hạn chế là: Phong trào hiến máu nhân đạo phát triển còn chậm; Quy chế hoạt động của các Phòng khám nhân đạo, tổ phòng thuốc Nam chưa được hình thành.

3. Công tác Thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ.

          Lực lượng thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ được phát triển nhanh trong các nhà trường, hiệu quả hoạt động ngày càng rõ rệt. Thông qua các hoạt động Chữ thập đỏ đã góp phần quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và nếp sống trong học sinh, nâng cao chất lượng học tập của nhà trường:

          Năm 1990, tổ chức Chữ thập đỏ mới chỉ có ở 30% số trường phổ thông, đến năm 1997 đã phát triển ở 75% số trường. Từ những hoạt động bề nổi như quyên góp giúp đỡ thuần, đến nay, hầu hết các trường học, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ đã có những hình thức hoạt động thường xuyên như: “Quỹ vì bạn nghèo” “Tiết kiệm hàng ngày để nuôi lợn đất”, hình thức kết bạn, bảo trợ học sinh nghèo...  mỗi năm tạo ra hàng chục tỷ đồng, giúp đỡ kịp thời cho hàng vạn học sinh nghèo vươn lên học giỏi, phát triển, thành đạt. Có những thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ nêu tấm gương quên mình để cứu đồng bào như Trương Thanh Bình, Nguyễn Văn Huân và hàng chục thiếu niên dung cảm cứu bạn.

          - Hoạt động giáo dục sức khoẻ được tiến hành gắn với nội dung giáo dục thể chất trong nhà trường. Hình thức huấn luyện và thực hành sơ cấp cứu trong thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ đã thu hút được sự tham gia của đông đảo thanh, thiếu niên, học sinh, đến nay đã có hơn 100.000 tổ sơ cấp cứu hoạt động đạt kết quả thiết thực. Lực lượng thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ đã tích cực tham gia vận động, tuyên truyền tiêm chủng mở rộng, dân số kế hoạch hoá gia đình, phòng chống HIV/AIDS, bài trừ tệ nạn ma tuý, tham gia hiến máu nhân đạo.

          - Các hình thức sinh hoạt tập thể, giao lưu nhằm bồi dưỡng năng lực hoạt động tình đoàn kết hữu nghị... đã được chú ý hơn. Năm 1989, Trung ương Hội tổ chức trại hè thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ toàn quốc lần thứ nhất. Nhiều tỉnh, thành đã phối hợp tổ chức trại hè, hội thi, hội thao thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ hàng năm. Từ năm 1992 đến nay đã cử 13 đoàn thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ tham dự trại hè Quốc tế ở 11 nước và đón nhiều đoàn thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ Quốc tế sang hoạt động tại Việt Nam. Một số đội Thanh niên Chữ thập đỏ xung kích đã chủ động tổ chức các cuộc du khảo đến các tỉnh, thành khác để tìm hiểu thực tế, đồng thời vận động giúp đỡ các đối tượng khó khăn.

          - Đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác Thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ đã có ở 30% các tỉnh, thành Hội. Có 600 Đội Thanh niên Chữ thập đỏ xung kích, chủ yếu là ở cơ sở. Công tác chỉ đạo của các cấp Hội có nhiều cố gắng, nhiều tỉnh, thành đã triển khai công tác huấn luyện cán bộ thanh, thiếu niên. 30% tỉnh, thành đã thực hiện việc đánh giá tổng kết công tác thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ hàng năm.

          Công tác thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ còn hạn chế: Phát triển lực lượng thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ ở địa bàn dân cư còn chậm. Phương thức hoạt động mang tính giáo dục chưa nhiều, còn nặng khuynh hướng huy động, đóng góp.

          4. Công tác xây dựng Quỹ nhân đạo của Hội có chuyển biến về nhận thức, chủ trương, biện pháp tiến hành, một số hình thức mới được triển khai có hiệu quả.

          Hội đã tập trung xây dựng Quỹ Nhân đạo ở cấp cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu cứu trợ, viện trợ kịp thời, tại chỗ. Cùng với việc đẩy mạnh các hình thức hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khai thác cơ sở vật chất hiện có của Hội, các cấp Hội đã tích cực, chủ động trong công tác tuyên truyền, vận động sự quên góp, ủng hộ, khai thác tiềm năng, sức mạnh của các tầng lớp nhân dân và sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế. Nhiều hình thức mới đã được triển khai có hiệu quả như: Ban Bảo trợ, ca nhạc từ thiện, Nhóm công tác xã hội, địa chỉ của những tấm lòng từ thiện v.v... Một số địa phương đã thoả thuận với nhân dân để quy định mức đóng góp thường xuyên hàng năm cho Quỹ Nhân đạo, hoặc trích từ ngân sách địa phương để tăng cường cho quỹ.

          Hiện nay, 90% cấp Hội cở sở đã có Quỹ Nhân đạo (cao nhất là 107 triệu, thấp nhất là 200.000đồng, trung bình là 1.200.000đồng) 70% quận, huyện, thị Hội và 100% tỉnh, thành Hội có Quỹ Nhân đạo trên 50 tỷ đồng. Nhờ có nguồn quỹ này, các cấp Hội đã chủ động hơn trong việc cứu trợ tại chỗ, kịp thời, tạo được niềm tin của hội viên và nhân dân đối với Đảng, Chính quyền và tổ chức Hội, tạo điều kiện cho Hội tiếp tục củng cố, phát triể tổ chức và hoạt động có hiệu quả cao hơn.

          Công tác xây dựng Quỹ Nhân đạo còn hạn chế: Một số cấp Hội còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự chi viện, giúp đỡ cuả Hội cấp trên, chưa tích cực, chủ động trong việc xây dựng Quỹ Nhân đạo. Một số nơi lúng túng giữa hoạt động kinh tế và nhân đạo.

          5. Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế của Hội ngày càng mở rộng và phát triển, hiệu quả hợp tác ngày một nâng cao.      

          Những năm qua, các cấp uỷ Đảng đã chú trọng chỉ đạo các cấp Hội quán triệt và thực hiện đường lối đối ngoại nhân dân cuả Đảng, mở rộng quan hệ với các Hội quốc gia, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam. Quan hệ hợp tác quốc tế của Hội ngày càng được tăng cường, hiện nay Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có quan hệ với 167 Hội quốc gia và là thành viên tích cực của nhóm các Hội Chữ thập đỏ ASEAN. Hội đã chủ động tham gia các hoạt động trong phong trào Chữ thập đỏ quốc tế và một số Hội quốc gia trong việc giải quyết người tỵ nạn, người hồi hương; phối hợp với Uỷ ban Quốc tế Chữ thập đỏ (CICR) tìm kiếm tin tức thân nhân được 800 trường hợp. Tuy điều kiện vật chất còn nghèo nhưng Hội đã cố gắng thể hiện trách nhiệm quốc tế giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn (giúp Amênia năm 1989, Irắc năm 1994, Camphuchia năm 1996). Các cấp Hội đã có nhiều hình thức vận động, tuyên truyền, giới thiệu Luật Quốc tế nhân đạo, 7 nguyên tắc cơ bản của phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ và chuẩn bị tốt các điều kiện, yếu tốt cho sự hợp tác phát triển.

          Đến nay, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã hội nhập tốt hơn phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác, hiệu quả ngày càng nâng lên rõ rệt. 10 năm qua, (1987-1997) các Hội quốc gia, các tổ chức quốc tế, Chính phủ một số nước đã viện trợ giúp đỡ nhân dân ta thông qua Hội Chữ thập đỏ gần 170 tỷ với 142 chương trình, dự án đạt gần 22% trong tổng số tiền, hàng, cứu trợ, viện trợ của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Sự giúp đỡ của bạn năm 1997 gấp 14 lần so với năm 1990. Hiện nay, 22 quốc gia và tổ chức quốc tế giúp đỡ Hội Chữ thập đỏ Việt Nam 32 chương trình dự án dài hạn và ngắn hạn với kinh phí trên 50 tỷ đồng. Nhiều tỉnh, thành Hội đã hợp tác trực tiếp, song phương với một số Hội quốc gia và tổ chức phi Chính phủ trong công tác nhân đạo ở địa phương. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đã thiết thực giúp đỡ nhân dân ta trong những lúc khó khăn, tạo thêm những nguồn lực mới để tiếp sức, thúc đẩy sự phát triển phong trào Chữ thập đỏ Việt Nam.

          Công tác đối ngoại và hợp tác của Hội còn hạn chế, tồn tại: Điều kiện cán bộ, kinh phí để làm công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế của các cấp Hội còn nhiều khó khăn. Tính chủ động trong công tác đối ngoại, hợp tác Quốc tế của nhiều địa phương còn hạn chế.

          III. Sự phối hợp hoạt động giữa Hội Chữ thập đỏ với các ngành và đoàn thể có liên quan có chuyển biến đáng kể thông qua các Nghị quyết liên tịch, phối hợp tổ chức, chỉ đạo phong trào, xây dựng cơ chế phối hợp, kiểm tra đánh giá, tuyên truyền cổ vũ cho những hoạt động nhân đạo ở các địa phương, đơn vị.

          Để thực hiện tốt công tác nhân đạo - xã hội, Trung ương Hội đã chủ động bàn bạc, ký Nghị quyết liên tịch với Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục - Đào tạo, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hịêp thanh niên về việc phối hợp hoạt động. Các tỉnh, thành Hội đã ký kết Nghị quyết liên tịch và xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp công tác với hầu hết các Ngành, Đoàn thể, Quân sự, Y tế, Giáo dục, Thương binh - Xã hội, Uỷ Ban chăm sóc và Bảo vệ trẻ em, Uỷ Ban Dân số kế hoạch hoá gia đình, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân.v.v...  Phần lớn các Ban, Ngành, Đoàn thể có liên quan đã cử cán bộ tham gia Ban Chỉ đạo của nhiều chương trình ở địa phương. Nhiều tỉnh, thành đã xây dựng và duy trì thường xuyên cơ chế phối hợp hoạt động giữa Hội với các Ngành, Đoàn thể, việc thực hiện đã đạt kết quả tốt trong một số lĩnh vực, công tác sau:

          - Công tác chăm sóc sức khoẻ và cứu trợ xã hội tại cộng đồng, nhất là các đối tượng nghèo khó, cô đơn, trẻ em thiệt thòi.

          - Phát triển tổ chức Hội trong các truờng học, vùng sâu, vùng xa, đẩy mạnh hoạt động của thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ xung kích, giáo dục lòng nhân ái và trách nhiệm với cộng đồng của thanh, thiếu niên.

          - Động viên các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xoá đói giảm nghèo” “Xây dựng điểm sáng những tấm lòng nhân đạo” khơi dậy tính tích cực xã hội, nếp sống nghĩa tình trên địa bàn dân cư.

          Thông qua việc phối kết hợp hoạt động của Hội với các Ban, Ngành, Đoàn thể, tổ chức xã hội đã có tác dụng đối với việc phát triển tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội, mặt khác các Ban, Ngành, Đoàn thể có điều kiện thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình, qua đó xác định rõ hơn vai trò nòng cốt trong lĩnh vực công tác đối với từng tổ chức, từng bước thực hiện xã hội hoá công tác nhân đạo - xã hội.

          Tuy nhiên, việc phối hợp hoạt động cới một số Ban, Ngành, Đoàn thể còn có những tồn tại, hạn chế: Nhiều nơi chưa xây dựng được cơ chế, kế hoạch, chương trình phối hợp hoạt động cụ thể. Một số hoạt động nhân đạo còn chồng chéo, làm hạn chế vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ trong lĩnh vực nhân đạo.

          IV. Quản lý, tạo điều kiện của chính quyền đối với công tác Chữ thập đỏ.

          Để thể chế hoá những định hướng về tổ chức và hoạt động của Hội nêu trong Chỉ thị 14, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 254/TTg (5/1994), Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ra thông tư 252/TCCP-TC (11/1995), Bộ Tài chính ra thông tư 85/TC (11/1997), Uỷ ban Nhân dân nhiều tỉnh, thành đã ra các văn bản của Chính phủ và cơ quan quản lý Nhà nước không quy định cụ thể về kinh phí, biên chế cán bộ, điều kiện hoạt động cho Hội, nhưng do hiệu quả hoạt động của Hội đã đóng góp tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương, nên nhiều tình thành đã vận dụng: Cấp kinh phí hoạt động cho Hội như các Đoàn thể chính trị - xã hội; Tăng cường biên chế cho các cơ quan chuyên trách của Hội, tăng thêm kinh phí cho Hội hợp đồng lao động; 43 tỉnh, thành đã giải quyết phụ cấp cho cán bộ Hội chủ chốt ở cơ sở (trong đó có 18 tỉnh UBND có quyết định phụ cấp cho toàn tỉnh, 25 tỉnh UBND các cấp hỗ trợ kinh phí để chi phụ cấp cho những Hội cơ sở hoạt động tốt); Từng bước tăng cường cơ sở, vật chất, trụ sở, xe ô tô, phương tiện làm việc cho Hội.

          Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền các cấp, các ngành: Y tế, giáo dục, Lực lượng vũ trang, Lao động - Thương binh xã hội.v.v..đã có sự phối hợp hoạt động với Hội Chữ thập đỏ ngày một tốt hơn, tạo điều kiện chuyển biến, tiến bộ hoạt động nhân đạo ở các địa phương.

          Tuy nhiên công tác quản lý, tạo điều kiện của các cấp Chính quyền đối với tổ chức và hoạt động của Hội còn hạn chế, tồn tại: Chậm thể chế hoá các chủ trương của Đảng về Hội thành những cơ chế, chính sách cụ thể, một số qui định và chính sách đối với Hội còn bất cập với yêu cầu, nhiệm vụ (Biên chế, phụ cấp cho cán bộ cơ sở, phụ cấp trách nhiệm của lãnh đạo Hội, kinh phí hoạt động.v.v... ). Việc quản lý các hoạt động nhân đạo, từ thiện do các tổ chức, cá nhân khác tiến hành ở địa phương còn hạn chế.

          V. Nhận định tổng quát và bài học kinh nghiệm bước đầu

          A. Những chuyển biến, tiến bộ

          Chỉ thị 14 ra đời đáp ứng nhu cầu kịp thời những vấn đề bức xúc đặt ra về tổ chức và hoạt động của Hội. Chỉ thị đã định hướng đúng cho quá trình đổi mới của Hội, đã được các cấp Uỷ Đảng và tổ chức Hội vận dụng đúng đắn và sáng tạo với các chủ trương, giải pháp sát thực tiễn cuộc sống và có bước đi thích hợp. Qua 10 năm phấn đấu, thực hiện đã tạo được những chuyển biến, tiến bộ nổi bật là:

          1. Đã tạo được sự chuyển biến hết sức quan trọng về quan điểm, nhận thức, trách nhiệm của nhiều cấp Uỷ Đảng, Chính quyền, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với hoạt động nhân đạo trong tình hình mới. Những tinh thần cơ bản của Chỉ thị 14 đã đi vào cuộc sống và phát huy yếu tố tác dụng, giải quyết cơ bản những vướng mắc, khó khăn về tổ chức và hoạt động Hội đã kéo dài nhiều năm, tạo nên sức mạnh mới thúc đẩy phong trào Chữ thập đỏ Việt Nam chuyển biến tích cực, toàn diện, đúng hướng, góp phần đưa sự nghiệp nhân đạo phát triển lên một bước mới.

          2. Tổ chức của Hội cả 4 cấp được củng cố, kiện toàn: Hội cơ sở đã phát triển đến hầu hết các xã, phường: số lượng và chất lượng của tổ chức Hội và cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ ngày càng được nâng lên rõ rệt. Đội ngũ cán bộ Hội các cấp được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Đã xuất hiện nhiều mô hình mới, nhân tố mới, nhiều tấm gương tận tụy, cống hiến, hy sinh của cán bộ, hội viên và nhân dân đối với hoạt động nhân đạo đã có tác dụng cổ vũ, động viên, khích lệ các tầng lớp nhân dân hướng thiện, trở thành một trong những nét đẹp trong đời sống cộng đồng.

          3. Hoạt động của Hội đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo theo định hướng của Đảng, có những chuyển biến tốt: hướng về cơ sở, bám sát thực tiễn, bằng nhiều nội dung, phương thức hoạt động đa dạng, phong phú đã huy động được sự phối hợp của các cấp, các ngành và sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, hiệu quả hoạt động của Hội ngày càng thiết thực và nâng cao, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước; khơi dậy và phát huy truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong công cuộc đổi mới của đất nước và trong tình cảm, đời sống của nhân dân.

          4. Hợp tác quốc tế của Hội ngày càng mở rộng và phát triển. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong phong trào Chữ thập đỏ Quốc tế, uy tín ngày càng được nâng cao. Sự chi viện, giúp đỡ của bạn bè quốc tế với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ngày càng hiệu quả, thiết thực giúp đỡ nhân dân ta khắc phục hậu quả thiên tai, chiến tranh. Qua hoạt động đối ngoại đã tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc, phục vụ có hiệu quả đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng.

          B. Những hạn chế và tồn tại

          1. Việc quán triển khai Chỉ thị 14 của một số cấp Uỷ Đảng chưa đồng bộ, chưa sâu rộng và chưa thường xuyên, liên tục. Nhiều nơi chỉ triển khai trong cấp uỷ và cán bộ chủ chốt. Việc phổ biến, tuyên truyền giải thích về Chỉ thị 14 chưa tích cực và đầy đủ. Vì vậy một số cấp uỷ, Chính quyền, cơ quan quả lý Nhà nước có liên quan đến hoạt động của Hội chưa nhận thức đầy đủ về tổ chức và hoạt động của Hội nên chưa có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho Hội hoạt động; thậm chí có những việc làm không đúng với tinh thần Chỉ thị 14 (sát nhập Hội vào Y tế, Mặt trận hoặc giải thể cơ quan chuyên trách của Hội, thu hồi con dấu của Hội cơ sở... ).

          2. Việc thể chế hoá Chỉ thị 14 của các cấp Chính quyền còn chậm, cơ chế, chính sách đối với Hội còn nhều bất cập. Những vướng mắc, khó khăn về biên chế cán bộ, kinh phí hoạt động, chế độ chính sách, nhất là với cấp Hội cơ sở, điều kiện phương tiện làm việc thiếu thốn đã và đang diễn ra ở nhiều nơi, nhưng chưa được giải quyết; nảy sinh những mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ và điều kiện thực thi, giữa nhiệm vụ và quyền lợi, làm ảnh hưởng không nhỏ tới phong trào và tâm tư, tình cảm của cán bộ, hội viên.

          3. Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ của Hội từ Trung ương đến cơ sở vừa thiếu, vừa yếu, chưa đủ sức đáp ứng sự phát triển của phong trào trong điều kiện mới:

          - Tổ chức của Hội, nhất là cấp cơ sở nhiều nơi phát triển chưa đồng đều, chưa vững chắc, tỷ lệ trung bình và yếu còn cao. Vùng cao, vùng sâu, vùng xa, các Trường đại học, khu kinh tế, thương mại, dịch vụ v.v...  tổ chức Hội phát triển còn chậm. Việc nhân các điển hình tiên tiến chưa được nhiều, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết hoạt động thực tiễn của Hội còn hạn chế.

          - Số ít cán bộ Hội đã vi phạm phẩm chất đạo đức, tham ô, lạm dụng và tiền, hàng cứu trợ, viện trợ, nội bộ mất đoàn kết kéo dài, vi phạm nguyên tắc tổ chức, tuy đã được xử lý kỷ luật kịp thời nhưng cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của Hội.

          4. Nội dung, phương thức hoạt động của một số cấp Hội, nhất là cơ sở chậm đổi mới, đơn điệu, kém hấp dẫn đối với cán bộ, hội viên. Hoạt động của Hội ở nhiều nơi chưa gắn được với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, chưa tạo được những động lực về tinh thần và vật chất để thu hút, gắn bó hội viên và nhân dân với tổ chức Hội.

          5. Sự phối hợp hoạt động của Hội với một số Bộ, Ngành, Đoàn thể chưa thường xuyên. Công tác tuyên truyền của Hội để làm chuyển biến nhận thức, trách nhiệm của các cấp Uỷ Đảng, Chính quyền, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân với công tác Hội và hoạt động nhân đạo còn hạn chế.

          C- Nguyên nhân của những chuyển biến, tiến bộ và hạn chế, tồn tại:

          * Về nguyên nhân của những chuyển biến, tiến bộ:

          1. Nhiều cấp uỷ Đảng, Chính quyền nhận thức đúng về vai trò, trách nhiệm của mình nên đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện cho Hội hoạt động.

          2. Sự phối hợp của các Ban, Ngành, đoàn thể có liên quan và sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân.

          3. Sự giúp đỡ của phong trào Chữ thập đỏ quốc tế, các Hội quốc gia, các Chính phủ và các tổ chức quốc tế.

          4. Sự kiên trì phấn đấu, nỗ lực vươn lên của các cấp Hội và cán bộ, hội viên. thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ.

          *Về nguyên nhân của những hạn chế và tồn tại:

          1. Sự chỉ đạo, kiểm tra của một số cấp uỷ Đảng chưa thường xuyên.

          2. Vai trò tham mưu và công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp Hội chưa tốt, năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ của Hội chưa đáp ứng yêu cầu.

          3. Nhân lực, kinh phí, điều kiện hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

          D. Những bài học kinh nghiệm

          1. Các cấp uỷ Đảng phải thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội, huy động cán bộ, đảng viên gương mẫu tham gia công tác nhân đạo làm nòng cốt cho phong trào. Các cấp Chính quyền phải thể chế những chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng thành cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho Hội hoạt động. Sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền luôn luôn là nhân tố quyết định sự trưởng thành, lớn mạnh của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

          2. Tiềm năng, sức mạnh của phong trào Chữ thập đỏ là ở nhân dân, sức sống của Hội là ở cơ sở. Hội cơ sở vững mạnh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của toàn Hội. Vì vậy hoạt động của các cấp Hội phải lấy cơ sở làm điểm xuất phát cho mọi chủ trương công tác và cần đầu tư đúng mức cho sự phát triển tổ chức và hoạt động của Hội cơ sở.

          3. Hội động của Hội phải quán triệt và thực hiện tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng, nhiệm vụ, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, hướng về cơ sở, gắn bó với đời sống nhân dân, đáp ứng kịp thời những nhu cầu thiết thân, bức xúc của quần chúng. đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, thuyết phục, cổ vũ, động viên và quan tâm đến lợi ích chính đáng của cán bộ, hội viên là những động lực vật chất và tinh thần giúp Hội vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.

          4. Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội là khâu then chốt trong công tác xây dựng Hội. Chú trọng lựa chọn cán bộ được rèn luyện, thử thách trong phong trào và những người có nhiệt tình, tâm huyết, năng động, sáng tạo, làm hạt nhân của phong trào. Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỗng, quy hoạch cán bộ, nhằm đáp ứng sự kế thừa, đổi mới trong công tác cán bộ và sự phát triển của phong trào trong điều kiện mới.

          5. Hoạt động nhân đạo từ thiện đang dần trở thành mặt trận rộng lớn cần có sự phối hợp chặt chẽ của các Ngành, Đoàn thể, Tổ chức xã hội và các tầng lớp nhân dân với vai trò tham mưu, nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ để thực hiện xã hội hoá công tác nhân đạo. Sự phát triển vững chắc của phong trào phải phát huy yếu tố nội lực là chủ yếu, đồng thời phải khai thác và phát huy hiệu quả sự hợp tác, chi viện quốc tế để thúc đẩy phong trào trong nước.

 

PHẦN THỨ HAI

TIẾP TỤC QUÁN TRIỆT CÁC QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, ĐẨY MẠNH

CÔNG TÁC CHỮ THẬP ĐỎ TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ,

HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC

         

I. Bối cảnh và yêu cầu đối với hoạt động nhân đạo trong tình hình mới.

          A- Thuận lợi

            1. Những quan điểm và chủ trương đúng đắn của Đảng về chính sách xã hội và hoạt động nhân đạo tác động tích cực đến hoạt động nhân đạo, từ thiện trong tình hình mới.

          2. Thành tựu của công cuộc đổi mới tạo cho hoạt động nhân đạo được mở rộng: Nhiều người có khả năng và nhu cầu hoạt động, hưởng ứng phong trào nhân đạo; Xuất hiện thêm những hình thức mới, những tổ chức linh hoạt của quần chíng làm công tác nhân đạo; Thêm nhiều tổ chức phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam tham gia hoạt động nhân đạo xã hội.

          3. Nhân đạo trở thành xu thế của thời đại: Nhân ái đã trở thành truyền thống bền vững của dân tộc ta, càng trong khó khăn gian khổ, truyền thống ấy càng được nêu cao.

          4. Tổ chức của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phát triển sâu rộng, hoạt động tích cực, hiệu quả, có điều kiện, yếu tổ để trở thành nòng cốt trong mặt trận nhân đạo của thời kỳ mới.

          B- Khó khăn

          1. Mặt trái của cơ chế thị trường đang phân hoá, cạnh tranh, tác động mạnh mẽ và phức tạp hơn đến hoạt động nhân đạo. Sự phân hoá giàu nghèo diễn ra nhanh, chênh lệch kinh tế, văn hoá giữa đô thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa ngày càng lớn. Xuất hiện su hướng sùng bái đồng tiền, chạy theo lợi nhuận, ích kỷ, thiếu lương tâm và đạo đức, coi rẻ con người, phai nhạt đạo lý truyền thống tốt đẹp. Tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng. Có những cá nhân, nhóm người, tổ chức lợi dụng nhân đạo để phục vụ cho lợi ích riêng, hoặc che đậy cho những việc làm phi pháp.

          2. Nhiều tổ chức cùng vận động, quyên góp chồng chéo: Làm cho người ủng hộ bị phân tâm, hoài nghi. Trong các tầng lớp nhân dân có đời sống bình thường và thấp đang có nhiều khoản đóng góp hợp lý và chưa hợp lý.

          3. Hậu quả chiến tranh còn hết sức nặng nề, đối tượng thuộc diện chính sách xã hội còn nhiều, thiên tai, bão lụt ngày càng diễn biến phức tạp với hậu quả nặng nề, môi trường, môi sinh đang bị đe doạ nghiêm trọng.

          4. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam chưa được quan tâm đầy đủ điều kiện, yếu tố (cán bộ, kinh bộ, kinh phí, cơ chế thực hiện, chính sách v.v... ) để thực hiện vai trò nòng cốt trong mặt trận nhân đạo rộng lớn.

          C- Yêu cầu

          1. Đối tượng cứu trợ, giúp đỡ còn nhiều và trên diện rộng nhưng khả năng đáp ứng còn bất cập.

          2. Yêu cầu về tính thiết thực và hiệu quả trong hoạt động nhân đạo ngày càng lớn: Nội dung hoạt động nhân đạo sẽ phong phú và mở rộng hơn (cả trong nước và ngoài nước); Hoạt động nhân đạo phải được xã hội hoá, công khai, dân chủ, các hình thức hoạt động sẽ được lồng ghép với các hoạt động khác và hoà vào nhiều hơn với các phong trào xã hội.

          3. Để hội nhập Phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế trong thời kỳ mới; mỗi Hội quốc gia vừa nhận được sự chi viện, giúp đỡ vừa có trách nhiệm, nghĩa vụ với phong trào; yếu tố nội lực của mỗi quốc gia đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần quan tâm giải quyết.

          4. Phải giải quyết hài hoà giữa nghĩa vụ và quyền lợi, chú trọng lợi ích vật chất và tinh thần để thúc đẩy phong trào (theo tinh thần Nghị quyết 8B khoá VI).

          II. Những quan điểm cơ bản của Đảng về hoạt động nhân đạo và việc xây dựng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong sự nhiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.

          Để phát huy vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đối với sự nghiệp nhân đạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây:

          Một là: Công tác nhân đạo từ thiện là nhiệm vụ quan trọng trong các hoạt động xã hội, phải được gắn liền với quá trình phát triển kinh tế- xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

          Hai là: Công tác nhân đạo, từ thiện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Các cấp uỷ Đảng lãnh đạo, quản lý và tổ chức hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam như các đoàn thể khác. Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện và ban hành cơ chế phối hợp và chính sách để khuyến khích mọi người dân, các tổ chức kinh tế-xã hội, các tổ chức nhân đạo, từ thiện thể hiện tốt vai trò làm chủ của mình, thực hiện hiệu quả các hoạt động nhân đạo.

          Ba là: Đầu tư xây dựng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thành tổ chức quần chúng rộng lớn, đủ sức làm tham mưu cho Đảng và Nhà nước về hoạt động nhân đạo và giữ vai trò nòng cốt, phối hợp các lực lượng và định hướng trong hoạt động nhân đạo, từ thiện.

          Bốn là: Công tác nhân đạo, từ thiện cần tiến hành theo hướng xã hội hoá, đa dạng hoá công khai, dân chủ, đúng pháp luật. Phát triển mạnh mẽ các hình thức tổ chức của quần chúng làm công tác nhân đạo, từ thiện, phù hợp với luật pháp và mục đích, nguyên tắc của công tác nhân đạo. Tôn trọng các đối tượng được giúp đỡ, không được lợi dụng công tác nhân đạo để thực hiện các lợi ích riêng hoặc che đậy các việc làm phi pháp của cá nhân hay tổ chức. Không ban ơn, vừa giúp đỡ vừa chú trọng phát huy khả năng của các đối tượng khó khăn vươn lên để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng.

          Năm là: Phát huy truyền thống nhân ái quý báu của dân tộc thành động lực tinh thần quan trọng để thúc đẩy hoạt động nhân đạo; đồng thời kết hợp hài hoà giữa nghĩa vụ và quyền lợi (vật chất, tinh thần) của công dân, giữa lợi ích cá nhân, tập thể và toàn xã hội trong hoạt động nhân đạo, từ thiện.

          III. Mục tiêu và nhiệm vụ

          1. Tiếp tục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân về việc phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc, sự đoàn kết gắn bó trong công đồng, xây dựng nếp sống văn minh và nhân đạo trong đời sống xã hội của nhân dân.

          2. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nhân đạo nhằm xã hội hoá công tác nhân đạo, góp phần thiết thực chăm lo đời sống và sức khoẻ nhân dân, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

          3. Xây dựng tổ chức Hội Chữ thập đỏ vững mạnh, nhất là tổ chức Hội cơ sở, đủ sức làm nòng cốt trong mặt trận nhân đạo rộng lớn, phát huy vai trò vị trí của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước.

          4. Mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân đạo; tăng cường trao đổi kinh nghiệm, tranh thủ và phát huy hiệu quả các nguồn viện trợ và các dự án trong lĩnh vực nhân đạo và phát triển kinh tế- xã hội, góp phần giải quyết có hiệu quả những hoạt động nhân đạo của đất nước.

          IV- Những chủ trương và giải pháp

          A. Xây dựng hội chữ thập đỏ việt nam vững mạnh, từng bước vươn lên làm nòng cốt trong mặt trận nhân đạo

          Hội chữ thập đỏ Việt Nam cần nghiên cứu,đề xuất với Đảng và Nhà nước về cơ chế tổ chức, quản lý và hoạt động trong lĩnh vực nhân đạo, từ thiện và từng bước vươn lên làm nòng cốt trong mặt trận nhân đạo rộng lớn với các nội dung chủ yếu sau:

          - Tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước về các định hướng, chủ trương, biện pháp trong hoạt động nhân đạo.

          - Tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn những hoạt động nhân đạo trong các tổ chức và các tầng lớp nhân dân.

          - Đi đầu trong việc tổ chức các hoạt động nhân đạo, liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng, phối hợp kiểm tra, đánh gía trong hoạt động nhân đạo.

          - Làm nòng cốt trong việc tiếp nhận, đièu phối tiền, hàng cứu trợ, viện trợ giúp đỡ nhân đạo cả trong và ngoài nước.

          - Tiến tới có những nhiệm vụ đặc thù của Hội trong lĩnh vực nhân đạo, từ thiện.

          Để thực hện được vai trò nòng cốt trong hoạt động nhân đạo, từ thiện của Hội nêu trên. Hội cần sớm nghiên cứu, đề xuất với Đảng và Nhà nước có hình thức tổ chức phù hợp như lập Liên hiệp các tổ chức nhân đạo, từ thiện do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm nòng cốt, định hướng, điều hành và chi phối về tổ chức và hoạt động. Trước mắt để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nhân đạo, Hội cần tập trung thực hiện tốt một số việc sau:

          1. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hiểu biết về hoạt động nhân đạo và về Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong cán bộ, hội viên và nhân dân. Các cấp Hội cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng để tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về Hội. Thông qua công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, hội viên và nhân dân hiểu đúng về vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Hội, nâng cao niềm vinh dự, tự hào về đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, hướng tới chân, thiện, mỹ, góp sức mình tham gia tốt công tác nhân đạo- xã hội do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức.

          2. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội, thiết thực chăm lo đời sống, sức khoẻ nhân dân. Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động truyền thống của Hội; tập trung hỗ trợ, giúp đỡ các đối tượng khó khăn nhất, tham gia giải quyết có hiệu quả những công việc trọng tâm thuộc chức năng, nhiệm vụ của Hội, khắc phục tình trạng hoạt động dàn trải, chung chung. Gắn hoạt động của Hội với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và các địa phương. Tăng cường hoạt động Chữ thập đỏ tại các Chi Hội, tổ hội ở các thôn ấp, bản làng với các hình thức, biện pháp linh hoạt, sáng tạo. Chú trọng hình thức hoạt động trong các gia đình, các nhóm nhỏ, tạo dựng nhiều mô hình đáp ứng nhu cầu của cán bộ, hội viên và nhân dân, nhằm tăng cường khả năng thu hút, tập hợp nhân dân tham gia hoạt động nhân đạo, phát huy tiềm năng, thế mạnh của nhân dân ở cơ sở, tạo yếu tố nội sinh vững chắc và có hiệu quả. Lồng ghép các mục tiêu trong hoạt động của Hội thông qua thực hiện các chương trình, dự án, cứu trợ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, công tác xã hội để tuyên truyền về Hội, phát triển hội viên, củng cố tổ chức, nâng cao vai trò, vị trí của Hội. Hoạt động cứu trợ, giúp đỡ của Hội cần hướng vào việc tạo điều kiện để các đối tượng khó khăn, bất hạnh vươn lên sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng.

          3. Củng cố tổ chức, nhất là Hội cơ sở; phát triển và nâng cao chất lượng hội viên và Thanh, Thiếu niên Chữ thập đỏ. Tập trung phát triển Hội Chữ thập đỏ trong khối trường học, nhất là khu vực trường đại học, cao đẳng trường dạy nghề, vùng sâu, vùng xa, phấn đấu đến năm 2000 phát triển tổ chức Hội đến hầu hết các trường và cơ sở xã, phường. Phát triển tổ chức Hội ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, liên doanh, khu vực chợ, trung tâm thương mại, dịch vụ, nhà ga, bến cảng. Mỗi cấp Hội cần chỉ đạo điểm việc phát triển tổ chức Hội trong các loại hình nêu trên để nghiên cứu, rút kinh nghiệm phục vụ cho công tác chỉ đạo. Việc phát triển tổ chức Hội chú trọng chất lượng, không chạy theo chất lượng. Đa dạng hoá các loại hình hoạt động, phát triển các chi hội tán trợ, chi hội theo đặc đIểm hội viên (hưu trí, khu thương mại, dịch vụ…); các loại hình câu lạc bộ. Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Hội và sự quản lý của Nhà nước để các loại hình trên hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích của Hội. Các cơ quan chuyên trách của Hội tổ chức lại theo hướng của một cơ quan làm công tác vận động quần chúng, cần đáp ứng cả về số lượng và chất lượng để nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, quản lý điều hành; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giúp đỡ cấp dưới, nắm sát hơn hoạt động thực tiễn ở cơ sở. Chú trọng làm tốt công tác quy hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, hướng chính là lựa chọn cán bộ được rèn luyện, thử thách từ phong trào, tăng cường cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có kinh nghiệm trong công tác vận động quần chúng, hiểu biết chuyên môn tham gia công tác Chữ thập đỏ. Làm tốt công tác giáo dục và động viên khen thưởng những cán bộ có thành tích xuất sắc trong hoạt động nhân đạo, từ thiện.

          Tập trung phát triển và nâng cao chất lượng hội viên; cùng với việc phát triển hội viên hoạt động, chú trọng phát triển hội viên danh dự, hội viên tán trợ, động viên đông đảo cán bộ, đảng viên, lãnh đạo các ngành, các cấp ở địa phương, cán bộ hưu trí.v.v…tham gia hoạt động nhân đạo. Quan tâm đúng mức những nhu cầu tinh thần, vật chất chính đáng để cổ vũ, động viên hội viên nâng cao niềm vinh dự, tự hào và gắn bó với hoạt động của Hội. Phát triển các đội Thanh niên Chữ thập đỏ xung kích, phấn đấu 100% Hội cơ sở xã, phường có đội Thanh niên Chữ thập đỏ xung kích, đồng thời cổ vũ, động viên, tạo điều kiện cho các em thực sự là mũi nhọn, lực lượng xung kích trong hoạt động của Hội ở cơ sở. Hoạt động của hội cần thực hiện dân chủ, công khai, đảm bảo đúng nguyên tắc, Điều lệ Hội, phát huy trí tuệ, trách nhiệm, tình cảm của cán bộ, hội viên và các tầng lớp nhân dân đối với hoạt động của Hội.

          4. Tích cực, chủ động xây dựng Quỹ Nhân đạo. Trước hết các cấp Hội cần nhận thức đầy đủ về ý nghĩa quan trọng và sự cần thiết của công tác xây dựng Quỹ Nhân đạo là một trong những điều kiện quyết định để các cấp Hội thực hiện tốt công tác nhân đạo. Xây dựng tốt Quỹ Nhân đạo chính là tạo những yếu tố nội lực vững chắc của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong tình hình mới. Hội cần có những chủ trương, biện pháp, kế hoạch cụ thể với những nội dung, phương thức phong phú để tuyên truyền, vận động sự đóng góp xây dưng Quỹ trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức quốc tế và các hình thức hoạt động kinh tế, dịch vụ của Hội để góp phần xây dựng Quỹ ngày càng phát triển. Quỹ nhân đạo phải được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, thực hiện đúng các nguyên tắc quản lý tài chính, tài sản theo quy định của Nhà nước, tạo niềm tin của nhân dân với hoạt động của Hội.

          5. Tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Tiếp tục giữ vững quan hệ với Hội Chữ thập đỏ các quốc gia đã có quá trình nhiều năm viện trợ cho Việt Nam, có kế hoạch chủ động mở quan hệ với các Hội quốc gia khác, các tổ chức xã hội, từ thiện, Việt kiều ở các nước, các cá nhân có thiện chí để tranh thủ sự giúp đỡ nhân đạo. Nâng cao hiệu quả viện trợ, vừa thực hiện có kết quả theo chương trình, vừa gắn với việc xây dựng tổ chức, thúc đẩy phong trào. Hội cần tích cực, chủ động tham gia hoạt động trong phong trào Chữ thập đỏ quốc tế, nhất là nước trong khu vực, góp phần thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

          B. Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong công tác nhân đạo

          1. Chính phủ sớm thể chế hoá các quan đIểm, chủ trương của Đảng về hoạt động nhân đạo và tổ chức hoạt động của Hội Chữ thập đỏ thành cơ chế, chính sách. Trước mắt có quy định cụ thể về biên chế cán bộ Hội ở 4 cấp, phụ cấp cho cán bộ Hội ở cơ sở, ngân sách, kinh phí hoạt động. Đồng thời chuẩn bị để ban hành những cơ chế, chính sách thích hợp đối với các vấn đề nhân đạo- xã hội để qua đó phát huy vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và sự tham gia tích cực của quần chúng trong lĩnh vực này.

          2. Có cơ chế để Hội Chữ thập đỏ tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách nhân đạo - xã hội. Đưa Hội Chữ thập đỏ là trong những thành viên trong các chương trình, dự án xã hội có liên quan đến hoạt động của Hội (chương trình xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, chăm sóc trẻ em mồ côi, người già…).

          3. Trong chương trình phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương phải có nội dung của công tác nhân đạo. Chính quyền các cấp có chủ trương, biện pháp cụ thể để chỉ đạo các Ban, Ngành, cơ quan quản lý Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp Hội hoạt động.

          4. Đầu tư các điều kiện về cán bộ, kinh phí, trụ sở, phương tiện hoạt động để Hội Chữ thập đỏ phát triển toàn diện, thực sự là một tổ chức nòng cốt trong hoạt động nhân đạo để phục vụ xã hội (không phải là một hội nghề nghiệp).

          5. Xây dựng luật lập Hội, Quy chế về Quỹ Nhân đạo do Hội Chữ thập đỏ chủ trì để thống nhất trách nhiệm của Nhà nước, của các tổ chức kinh tế, các tầng lớp nhân dân đối với công tác nhân đạo. Tạo điều kiện thuận lơị cho Hội Chữ thập đỏ chủ động thực hiện công tác cứu trợ, giúp đỡ đối với các đối tượng khó khăn.

          C. Tăng cường sự phối hợp của các bộ, ngành và tổ chức quần chúng, xã hội trong công tác nhân đạo

          1. Hội Chữ thập đỏ là lực lượng nòng cốt trong công tác nhân đạo, có trách nhiệm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền những chủ trương, biện pháp về công tác nhân đạo, xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ với các Ngành, Đoàn thể, tổ chức xã hội trong công tác nhân đạo, tránh trùng lặp.

          2. Các Ngành, Đoàn thể, các lực lượng xã hội có trách nhiệm phối hợp với Hội Chữ thập đỏ trong các phong trào hoạt động nhân đạo, giáo dục cán bộ, công nhân viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức mình về mục đích, nguyên tắc, phương hướng của công tác nhân đạo xã hội chủ nghĩa, cụ thể:

          * Ngành Y tế, Uỷ ban Dân số kế hoạch hoá gia đình, Uỷ ban Phòng chống HIV/AIDS quốc gia, cần phối hợp chặt chẽ với Hội Chữ thập đỏ trong nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là y học dự phòng; tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS và truyền thông về dân số kế hoạch hoá gia đình trong cộng đồng; thành lập các phòng khám chữa bệnh nhân đạo và Trung tâm hiến máu nhân đạo. Ngành Y tế giám sát để sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ đúng theo quy định.

          * Lực lượng vũ trang phối hợp với các cấp Hội trong việc củng cố, xây dựng tổ chức Hội, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và chăm lo sức khoẻ,đời sống của nhân dân nhất là trong các đợt thiên tai, bão lụt. Phổ biến Luật nhân đạo quốc tế trong quân đội và nhân dân.

          * Ngành Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm phối hợp với Hội Chữ thập đỏ thường xuyên quan tâm tới đối tượng chính sách, người già cô đơn, người tàn tật, đối tượng bị di chứng do chất độc da cam, trẻ em lang thang. Khuyến khích việc thu hút các dự án để dạy nghề cho các đối tượng bất hạnh.

          * Ngành Giáo dục - Đào tạo, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam cần phối hợp tốt hơn nữa trong xây dựng các đội thanh niên Chữ thập đỏ xung kích, giáo dục học sinh, thanh, thiếu niên có nhận thức đúng đắn về hành vi nhân đạo từ thiện trong cuộc sống, bồi dưỡng cho các em lòng yêu nước, lối sống vị tha, biết quan tâm đến người khác, góp phần làm lành mạnh đến đời sống xã hội, chuẩn bị cho một lớp hội viên mới có năng lực hoạt động thực tiễn và tâm hồn cao đẹp cho phong trào Chữ thập đỏ.

          * Các cơ quan thông tin đại chúng cần coi trọng việc thường xuyên đăng tải các điển hình tiên tiến trong công tác nhân đạo, từ thiện, tiến tới mỗi tỉnh, thành phố có trang báo chuyên đề về nhân đạo và chuyên mục truyền hình nhân đạo.

          * Bộ Ngoại giao, Uỷ ban về người Viêt Nam ở nước ngoài phối hợp và tạo điều kiện để Hội Chữ thập đỏ tiến hành các hoạt động hợp tác trong công tác Chữ thập đỏ và thu hút Việt kiều tham gia hưởng ứng các hoạt động nhân đạo trong nước.

          * Ban tổ chức cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tạo những điều kiện cần thiết giúp cho Hội hoạt động.

          Với các ngành, đoàn thể khác, tuỳ theo tính chất và yêu cầu của phong trào mà phối hợp chặt chẽ với Hội Chữ thập đỏ thông qua việc ký kết các liên tịch, đẩy mạnh phong trào quần chúng làm tốt chức năng của mình ở các cấp, nhất là ở cơ sở.

          D. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động nhân đạo và công tác chữ thập đỏ.

          1. Các cấp uỷ Đảng tiếp tục quán triệt, phổ biến những quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác nhân đạo, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với hoạt động nhân đạo. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu tham gia công tác nhân đạo và hoạt động Chữ thập đỏ, thông qua đó thực hiện tốt hơn công tác xã hội, công tác quần chúng, tạo niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với chế độ.     

          2. Các cấp uỷ Đảng tăng cường lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ thông qua Đảng Đoàn và tổ chức Đảng, định hướng các hoạt động của Hội, chăm lo xây dựng, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ Hội, kiểm tra việc thực hiện mục đích, nguyên tắc nhân đạo của Hội. Đưa nội dung hoạt động nhân đạo và xây dựng Hội Chữ thập đỏ vững mạnh là một trong những tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên, cán bộ và tổ chức Đảng.

          3. Kịp thời động viên và phát huy các kết quả hoạt động nhân đạo của Hội Chữ thập đỏ, các tầng lớp nhân dân để nâng cao vai trò làm chủ của tổ chức Hội và quần chúng trong việc xây dựng và phát triền đất nước.

          4. Lãnh đạo và kiểm tra các Đoàn thể, các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các công trình công tác xã hội nhân đạo và phối hợp hoạt động với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

          5. Thống nhất việc quản lý tổ chức, cán bộ của Hội Chữ thập đỏ về khối Đảng (như các tổ chức Đoàn thể).

          V. Một số nhiệm vụ cần tập trung giải quyết trong thời gian tới

          1. Các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội tổ chức nghiên cứu, quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác nhân đạo và hoạt động của Hội Chữ thâp đỏ Việt Nam, xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, nền nếp lãnh đạo, chỉ đạo của địa phương, đơn vị mình về hoạt động nhân đạo và với Hội Chữ thập đỏ.

          2. Chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức Hội các cấp, thành lập Đảng Đoàn ở các tỉnh Hội chưa có, thống nhất đầu mối quản lý của Hội sinh hoạt trong khối Dân vận. Tăng cường biên chế, kinh phí và điều kiện hoạt động cho các cấp Hội.

          3. Có biện pháp để giải quyết phụ cấp cho đội ngũ cán bộ Hội cơ sở, động viên anh em yên tâm, phấn khởi tham gia công tác nhân đạo.

          4. Chỉ đạo các cấp Hội chuẩn bị tốt các điều kiện, yếu tố để tổ chức tốt Đại hội các cấp tiến tới Đại hội Chữ thập đỏ toàn quốc lần thứ VII vào đầu năm 2000.

 

 

          Qua tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 14, chúng ta nhận thấy những nỗ lực rất lớn của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ trong cả nước trong sự nghiệp nhân đạo, đã tạo tiền đề vững chắc cho việc xã hội hoá công tác nhân đạo trong thời gian tới.

          Công tác nhân đạo trong công cuộc đổi mới đất nước mang một ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa là biểu hiện sinh động về sự kế tục và phát huy truyền thống nhân ái quý báu của dân tộc, vừa là biểu hiện sinh động của mối quan hệ mật thiết và sâu sắc giữa Đảng với Dân và Dân với Đảng.

            Qua tổng kết giúp chúng ta nhìn nhận thực chất hơn quá trình 10 năm thực hiện Chỉ thị 14- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI), có quyết tâm và biện pháp phát huy tốt hơn nữa những kết quả đã đạt được và mau chóng khắc phục những hạn chế tồn tại.

          Đảng ta đề cao công tác nhân đạo, khuyến khích hướng thiện, chính là con đường để đi đến việc hoàn thiện và nâng cao phẩm chất và chất lượng sống của mỗi con người. Vì mỗi người, cả cộng đồng đồng tâm nhất trí, đoàn kết, yêu thương, sẽ là nhân tố quyết định thắng lợi mục tiêu Đảng ta đã đề ra đó là “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vì hạnh phúc của nhân dân”.

 

 

 

TM. ĐẢNG ĐOÀN HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

  Bí thư

 

(Đã ký)

 

Nguyễn Trọng Nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ hai

MỘT SỐ VĂN BẢN CỦA CHÍNH PHỦ, BỘ, NGÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG

CHỮ THẬP ĐỎ VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC VĂN BẢN

QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHỮ THẬP ĐỎ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


       NGHỊ ĐỊNH SỐ 77-NV

 

 

NGHỊ ĐỊNH CHO PHÉP

HỘI HỒNG THẬP TỰ VIỆT NAM THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG

 

BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ

 

Chiểu sắc lệnh số 53 ngày 22 tháng 4 năm 1946 quy định việc lập Hội;

Chiểu đơn xin của bác sĩ Vũ Đình Tụng và bản Điều lệ đính theo;

Chiểu ý kiến tán thành của Bộ trưởng Bộ Y tế,

 

NGHỊ ĐỊNH

 

Điều 1: Hội Hồng thập tự Việt Nam, trụ sở Trung ương Hội ở Hà Nội, nay được phép thành lập và hoạt động theo thể lệ đã ấn định trong sắc lệnh số 52 ngày 22/4/1946 và Điều lệ đính kèm theo nghị định này.

Điều 2: Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ, các UBHC Bắc bộ, Trung Bộ, Nam Bộ chiếu nghị định thi hành.

 

  Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 1947

                       BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ

 

  (đã ký)

 

  TÔN ĐỨC THẮNG

 

 

 

 

 

 

CHÍNH PHỦ                              CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

   -------                                                          Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số : 254 CT/TTg                                                          ----------------------------------

                              Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 1994

 

CHỈ THỊ CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Về việc các cấp chính quyền hỗ trợ và tạo điều kiện

để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

 


         

Từ ngày thành lập đến nay, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân làm công tác xã hội nhân đạo và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Hoạt động của Hội đã góp phần thiết thực giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, cùng nhà nước thực hiện chính sách xã hội và phát huy lòng nhân ái trong mọi tầng lớp nhân dân.

          Để phát huy hơn nữa vai trò, khả năng của Hội Chữ thập đỏ trong công tác nhân đạo và tạo điều kiện cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện một số việc sau đây:

          1. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được tổ chức ở các cấp theo Điều lệ đã xác định. Cán bộ của Hội : ở cấp cơ sở, kể cả cán bộ lãnh đạo và nhân viên đều là tình nguyện và kiêm nhiệm, cần gắn với ngành y tế và các đoàn thể nhân dân, nhất là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam. Từ cấp huyện trở lên có cán bộ chuyên trách, số lượng cụ thể do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định trong tổng số biên chế hành chính của địa phương.

          2. Lương và các chế độ, chính sách đối với cán bộ chuyên trách do cơ quan nhà nước cử sang làm công tác Hội được ghi trong chỉ tiêu biên chế thì hưởng lương chuyên môn theo như công chức hành chính. Đối với cán bộ do Hội tự tuyển dụng ngoài chỉ tiêu biên chế thì căn cứ vào chế độ chung của nhà nước Hội tự trả lương.

          3. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có trách nhiệm chuyển giao toàn bộ tiền và hiện vật đã vận động quyên góp được trong nhân dân và viện trợ nhân đạo của các tổ chức quốc tế đúng mục đích, đến đối tượng được cứu trợ, giúp đỡ. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp hỗ trợ kinh phí cần thiết cho hoạt động của Hội.

          4. Uỷ ban nhân dân các cấp căn cứ vào khả năng và tình hình cụ thể của địa phương, cần tạo điều kiện cho Hội hoạt động, mở rộng và phát huy tác dụng thiết thực của các hoạt động nhân đạo của Hội ở địa phương.

 

          5. Yêu cầu Bộ Y tế và các Bộ, ngành có liên quan và Uỷ ban nhân dân các cấp và đề nghị các đoàn thể nhân dân cùng hỗ trợ và phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong việc thực hiện các chương trình dự án về hoạt động nhân đạo và phát triển kinh tế – xã hội. Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền, giới thiệu những hoạt động nhân đạo có hiệu quả trong công cuộc đổi mới đất nước.

          Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Chỉ thị này.

 

                                                                                                THỦ TƯỚNG

 

                                                                                                   Đã ký

 

                                                                                                Võ Văn Kiệt

 

 

 


  BAN TỔ CHỨC              CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CÁN BỘ CHÍNH PHỦ                                 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

      -------                                                         ---------------------------------

  Số 252/TCCP.TC                                              Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 1995

 

 

THÔNG TƯ

Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 254/TTg ngày 16/5/1994

của Thủ tướng Chính phủ “về việc các cấp Chính quyền

hỗ trợ và tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động

của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

         

         

Ngày 16 tháng 5 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 254/TTg “Về việc các cấp Chính quyền hỗ trợ và tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam”. Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 254/TTg của Thủ tướng Chính phủ như sau:

            I. Về hệ thống tổ chức và bố trí cán bộ của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ở các cấp

          A. Về hệ thống tổ chức

          Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được tổ chức ở 4 cấp theo Điều lệ Hội (khoá VI) đã xác định gồm:

1.                 Trung ương Hội

2.                 Tỉnh, thành Hội

3.                 Huyện, quận Hội và tương đương

4.                 Hội cơ sở xã, phường và tương đương

Các cấp Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Việc thành lập các cấp Hội phải theo đúng pháp luật quy định của lập Hội.

Hội Chữ thập đỏ Việt Nam hoạt động trong phạm vi cả nước, theo hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều lệ Hội đã được Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ công nhận và 7 nguyên tắc cơ bản của phong trào Chữ thập đỏ: nhân đạo, vô tư, trung lập, độc lập, tự nguyện, thống nhất, toàn cầu.

Hội cơ sở được thành lập theo địa bàn dân cư xã, phường, thị trấn và tương đương. Chi hội được thành lập theo địa bàn dân cư : Bản, làng, thôn, ấp hoặc trường tiểu học, trung học cơ sở, xưởng, đội sản xuất… Mỗi chi hội phải có ít nhất từ 5 hội viên trở lên.

 

B. Về bố trí đội ngũ cán bộ các cấp của Hội

Cán bộ các cấp của Hội bố trí theo hướng tăng cường và phát triển đội ngũ cộng tác viên, kiêm nhiệm và những người tình nguyện. Cán bộ chuyên trách do Đảng và Nhà nước cử sang với số lượng hợp lý để giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động của Hội, cụ thể:

- Cán bộ Hội ở cấp cơ sở là những người tình nguyện, không nằm trong biên chế, có năng lực vận động quần chúng và hiểu biết chuyên môn để có điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ.

- Cấp huyện trở lên có cán bộ chuyên trách trong biên chế nhà nước. Số lượng cụ thể từng huyện, từng tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định trong tổng số biên chế hành chính của địa phương. Tuỳ theo nhu cầu, hiệu quả hoạt động của Hội, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu và điều chỉnh số lượng biên chế cho Hội.

- Đối với Trung ương Hội, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ giao, quản lý và điều chỉnh số lượng cán bộ trong biên chế nhà nước.

- Việc quản lý cán bộ trong chỉ tiêu biên chế nhà nước thực hiện theo quy định về quản lý công chức, viên chức hiện hành.

II. Về lương và các chế độ chính sách đối với cán bộ Hội Chữ thập đỏ ở các cấp

- Lương và các chế độ chính sách đối với cán bộ chuyên trách của Hội được ghi trong chỉ tiêu biên chế thì hưởng lương chuyên môn như công chức hành chính.

- Đối với cán bộ do Hội tự hợp đồng ngoài chỉ tiêu biên chế thì căn cứ vào chế độ chung của nhà nước do Hội tự trả lương.

- Phụ cấp trách nhiệm lãnh đạo của Hội thực hiện theo quy định tại Thông tư 199/TCCP ngày 6/5/1994 của Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ. Chủ tịch và Phó Chủ tịch quận, huyện Hội hưởng phụ cấp trách nhiệm tương đương Trưởng phó phòng cấp huyện do Ngân sách nhà nước chi trả. Các chức danh lãnh đạo của Hội còn lại do Ban Thường vụ Trung ương Hội hướng dẫn và dùng quỹ Hội để chi trả.

- Cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở Hội ở xã, phường và tương đương căn cứ vào hiệu quả hoạt động và khả năng của từng địa phương để vận dụng mức phụ cấp cho phù hợp.

III. Về kinh phí và các điều kiện hoat động

Nguồn tài chính hoạt động của các cấp Hội gồm:

- Hội phí của hội viên.

- Những khoản thu do hội viên tự nguyện đóng góp và tiền, hiện vật do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ.

- Ngân sách do nhà nước (ngân sách Trung ương và địa phương) tài trợ.

- Những khoản thu từ hoạt động dịch vụ theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào nhu cầu hoạt động và khả năng của từng địa phương, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp (kể cả cơ sở) quyết định mức hỗ trợ kinh phí hàng năm và các điều kiện đảm bảo cần thiết cho các cấp Hội hoạt động. Việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Hội ở các cấp phải tuân theo nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước.

- Các cấp Hội có trách nhiệm chuyển giao toàn bộ tiền và hiện vật đã vận động quyền góp được trong nhân dân và viện trợ nhân đạo của các tổ chức quốc tế đúng mục đích, đến đối tượng được cứu trợ, giúp đỡ và thanh quyết toán theo đúng quy định của tổ chức tài trợ, các quy định của nhà nước và Trung ương Hội.

IV. Sự phối hợp của các bộ, ngành trong công tác nhân đạo

Để thực hiện Chỉ thị số 254/TTg của Thủ tướng Chính phủ, đề nghị Bộ Y tế, các Bộ, Ngành có liên quan, Uỷ ban nhân dân các cấp và các đoàn thể nhân dân cùng hỗ trợ, phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong hoạt động nhân đạo và việc thực hiện các chương trình, dự án về hoạt động nhân đạo và phát triển kinh tế xã hội.

Đề nghị các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, giới thiệu những hoạt động nhân đạo có hiệu quả trong công cuộc đổi mới đất nước.

Quá trình thực hiện nếu có vướng mắc hoặc phát sinh đề nghị phản ánh về Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ để nghiên cứu, giải quyết.

 

                                                 KT/BỘ TRƯỞNG, TRƯỞNG BAN

                                                 TỔ CHỨC-CÁN BỘ CHÍNH PHỦ

                                                              Phó Trưởng Ban

Nơi nhận:

- VP Chính phủ;                                                                            (Đã ký)

- Ban TC, Ban DVTW Đảng;                                                  

- UBND, Ban TC Chính quyền;                                                           Tô Tử Hạ

 các tỉnh, Tp trực thuộc TW;                                           

- Hội CTĐ Việt Nam;

- Lưu VP, TC.

 

 

 

 

 

 

HỘI CHỮ THẬP ĐỎ

VIỆT NAM

*****

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 


Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2007

 

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG

CHỮ THẬP ĐỎ Ở VIỆT NAM

 

 

Để phục vụ cho việc xây dựng Dự án Luật hoạt động Chữ thập đỏ, căn cứ vào nhiệm vụ của Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh được quy định tại Điều 26 khoản 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, công tác tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về hoạt động Chữ thập đỏ trong những năm qua đã được khẩn trương tiến hành. Hội đã tổ chức nhiều đợt khảo sát thực tiễn tại một số địa phương cả ba miền Bắc, Trung, Nam; tổ chức một số hội thảo, hội nghị sơ kết, tổng kết đánh giá về hoạt động chữ thập đỏ; tiến hành việc rà soát, hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động Chữ thập đỏ. Báo cáo tổng kết này là kết quả tổng hợp của các hoạt động nêu trên.

 

PHẦN THỨ NHẤT
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHỮ THẬP ĐỎ

 

          Ngay khi cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn của một đất nước mới giành được độc lập nhưng Đảng và Nhà nước Việt nam đã rất quan tâm đến hoạt động nhân đạo thể hiện qua việc ban hành Nghị định 77-NV ngày 31/5/1947 cho phép thành lập Hội Hồng thập tự Việt Nam, là tổ chức sơ khai của Hội chữ thập đỏ Việt Nam hiện nay. Nội dung Nghị định 77-NV tuy chỉ mang tính định hướng về tổ chức và hoạt động của Hội nhưng là bước ngoặt quan trọng đối với việc lần đầu tiên tại Việt Nam, Nhà nước đã chính thức ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền tự do đầu tiên của công dân, đó là quyền tự do lập hội (Điều 10, Hiến pháp 1946).

1. Hoạt động ban hành các văn bản chỉ đạo quan trọng của Đảng đối với công tác tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đối với công tác nhân đạo xã hội là Phải xuất phát từ tình thương yêu nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và làm mọi việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành hơn 10 văn bản để chỉ đạo và đề ra phương hướng đối với tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ với nhiều hình thức như Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tri, qua đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với hoạt động nhân đạo xã hội qua các giai đoạn cách mạng.

Sau khi Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được thành lập, trước thực trạng hoạt động nhân đạo tuy phát triển hơn trước, phong phú hơn cả về hình thức và nội dung nhưng qui mô còn nhỏ lẻ, mang tính tự phát, chủ yếu là những hoạt động giúp đỡ, hỗ trợ, cứu trợ ngay tại thôn xóm cộng đồng, Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khoá V) đã ra Chỉ thị 14/CT-TW ngày 7/9/1987 "Về việc củng cố tổ chức, phát huy tác dụng tích cực của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam". Nội dung Chỉ thị ghi nhận Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Hiệp Hội Chữ thập đỏ và Trăng Lưỡi liềm đỏ Quốc tế, là một tổ chức xã hội của quần chúng làm công tác nhân đạo xã hội chủ nghĩa”, đồng thời định hướng phát triển một số chức năng hoạt động cơ bản của Hội. Chính vì vậy, Chỉ thị 14/CT-TW là văn bản đầu tiên của Đảng chỉ đạo một cách toàn diện về tổ chức và hoạt động của Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của Chỉ thị 14/CT-TW, nhiều cấp uỷ Đảng đã có kế hoạch và biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị nghiêm túc và kịp thời.[1]

Tiếp theo Chỉ thị 14/CT-TW, Bộ Chính trị đã ra Thông báo số 68 (4/1994), Thông tri 01 (9/1996), Công văn số 46 (8/1997) tiếp tục cụ thể hoá các điểm và sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng và phát huy vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong các hoạt động nhân đạo. Tại Thông tri số 01, ngày 20/9/1996, Bộ Chính trị đã yêu cầu: “Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp có những biện pháp tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện về mọi mặt để Hội phát huy tốt vai trò nòng cốt trong công tác nhân đạo, góp phần thực hiện tốt chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, giữ gìn phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc.  

Song song với quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị 14/CT-TW, ngày 27/3/1990, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII (Khoá VI) đã ban hành Nghị quyết 8B về đổi mới công tác quần chúng của Đảng. Nghị quyết đã thể hiện chuyển biến mới trong cách tư duy, nhìn nhận, đánh giá của Đảng đối với công tác quần chúng nói chung và công tác Chữ thập đỏ nói riêng. Nghị quyết đã chỉ rõ: “Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng, cần thành lập những tổ chức quần chúng đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống của nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái. Vận dụng tinh thần của Nghị quyết 8B nói trên, các tổ chức, đoàn thể Hội chữ thập đỏ đã tập trung chú trọng phát triển chất lượng cán bộ, hội viên với nhiêu chủ trương, biện pháp thiết thực.

Có thể nói, thông qua việc ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác Chữ thập đỏ đã thể hiện Đảng luôn dành một sự quan tâm đặc biệt đối với công tác nhân đạo, ghi nhận Hội Chữ thập đỏ Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong công tác nhân đạo. Các văn bản chỉ đạo, định hướng của Đảng thực sự là kim chỉ nam cho việc tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau của đất nước.

2. Công tác thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Đảng, hoạt động thể chế hoá thành văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ đã được triển khai đều đặn thường xuyên. Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động chữ thập đỏ ban hành còn chậm, với những hình thức có giá trị pháp lý chưa cao so với một số lĩnh vực hoạt động khác và số lượng văn bản chưa nhiều nhưng nhìn chung hệ thống các văn bản không ngừng được phát triển, hoàn thiện và ngày càng mở rộng phạm vi điều chỉnh. 

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Chỉ thị 14/CT-TW, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 254 vè việc các cấp chính quyền trong cả nước đã hỗ trợ và tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Đây cũng là Chỉ thị đầu tiên và duy nhất của Nhà nước ban hành kể từ khi Hội được thành lập cho đến nay để chỉ đạo công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam nhằm củng cố, hoàn thiện về mặt tổ chức cán bộ, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội. Trên cơ sở Chỉ thị số 254, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện các hoạt động của Hội Chữ thập đỏ, cụ thể:

  1. Thông tư số 2552/TCCP-TC ngày 20/11/1995 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 254/TTg ngày 16/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc các cấp chính quyền hỗ trợ và tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

  2. Thông tri số 01-TT/TW ngày 20/9/1996 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc tăng cường lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

  3. Thông tư số 85/1997TT-BTC ngày 22/11/1997 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 254/TTg ngày 16/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc các cấp chính quyền hỗ trợ và tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

  4. Quyết định số 105/1998/QĐ-TTg ngày 9/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thành lập Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam do chiến tranh ở Việt Nam.

  5. Thông tư số 35/1999/TT-BTC ngày 2/4/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý tài chính và sử dụng Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam.

  6. Quyết định số 215/1999/QĐ-TTg ngày 3/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với hoạt động tìm kiếm cứu nạn.

  7. Thông tư số 02/2000/TT-BTC ngày 5/1/2000 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá, dịch vụ do các tổ chức trong nước mua bằng tiền viện trợ nhân đạo của nước ngoài.

  8. Quyết định số 112/2000/QĐ-TTg ngày 27/9/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập ban Chỉ đạo việc sử dụng tiền và hàng cứu trợ vùng bị lụt, bão.

9. Thông tư số 01/2002/TT-BYT ngày 6/2/2002 của Bộ Y tế hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh nhân đạo.

10. Thông tư số 60/2002/TT-BTC ngày 10/7/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn quản lý tài chính đối với các cơ sở y tế khám chữa bệnh nhân đạo thuộc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

11. Thông tư liên tịch số 14/2002/TTLT/BYT-BCT ngày 16/12/2002 của Bộ Y tế, Bộ tài chính hướng dẫn tổ chức khám chữa bệnh và lập, quản lý, sử dụng thanh quyết toán Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo theo Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ.

12. Quyết định 21/2003/QĐ-TTg ngày 29/1/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho các tổ chức chính trị-xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước.

13. Thông tư số 123/2003/TT-BTC ngày 16/12/2003 hướng dẫn việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho các tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước.

14. Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội.

          15. Thông tư số 01/2004/TT/BNV ngày 15/1/2004 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 3/7/2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội.

16. Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.

17. Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 14/5/2004 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 121.

Qua các văn bản nêu trên, có thể thấy rằng pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ đã được Nhà nước quan tâm nhiều hơn so với các tổ chức hoạt động nhân đạo khác, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, số lượng các văn bản pháp luật đã tăng lên đáng kể. Kết quả cụ thể:

 a) Trong công tác tổ chức, cán bộ của Hội:

 Ngay khi Hội Chữ thập đỏ được thành lập, Điều 1 của Nghị định 77-NV đã quy định Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức và hoạt động theo 4 cấp: Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Huyện, quận; Xã, phường, cơ sở. Theo đó, Chỉ thị 254/TTg của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục cụ thể hoá quan điểm chỉ đạo của Đảng về nhiệm vụ phát triển và củng cố tổ chức Hội được thể hiện trong Chỉ thị 14/CT-TW với mục tiêu tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, bảo đảm thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức Hội ở cả ba cấp: tỉnh, huyện, xã cần có cả cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách. Đồng thời, để khuyến khích, động viên kịp thời đối với lãnh đạo Hội cấp cơ sở, Chính phủ ban hành Nghị định 121/NĐ-CP giải quyết phụ cấp cho Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ cơ sở. Tuy mới chỉ giải quyết được phần nào khó khăn kinh tế trước mắt nhưng đã tạo tâm lý yên tâm, vững tin vào đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động nhân đạo của lãnh đạo và cán bộ Hội Chữ thập đỏ.

Phát huy tinh thần chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã không ngừng củng cố phát triển lực lượng cán bộ từ Trung ương đến địa phương. Theo Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam khoá VII tại Đại hội đại biểu Chữ thập dỏ toàn quốc lần thứ VIII, tính đến tháng 8/2006, 100% các tỉnh, thành, quận, huyện và tương đương có tổ chức Hội Chữ thập đỏ; 9684/10848 xã, phường có tổ chức Hội Chữ thập đỏ cơ sở, tổng số cán bộ của Hội các cấp là 11.900 trong đó cấp xã, phường thị trấn có 9.648 cán bộ, tỷ lệ cán bộ chuyên trách chiếm 40,8%.

b) Trong lĩnh vực hoạt động cứu trợ nhân đạo:

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 18/2000/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định này. Đây là những văn bản có ý nghĩa quan trọng đối với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, là cơ sở để xác định đối tượng thụ hưởng, phương thức thụ hưởng, mức thụ hưởng từ các hoạt động cứu trợ của Hội. Đồng thời, với việc đánh giá cao vai trò của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong công tác cứu trợ xã hội, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 112/2000/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo sử dụng tiền và hàng cứu trợ vùng bị lụt bão, giao nhiệm vụ cho Trung ương Hội Chữ thập đỏ là thành viên của Ban Chỉ đạo bên cạnh một số bộ, ngành khác.

Quyết định số 105/1998/QĐ-TTg cho phép Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thành lập "Quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam". Thông tư số 35/19/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý tài chính và sử dụng Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam. Căn cứ vào các văn bản nói trên, Quỹ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam các cấp được thành lập. Chỉ trong vòng 5 năm (2002-2005), các cấp hội đã vận động và xây dựng quỹ với tổng số tiền lên tới 108 tỷ đồng. Riêng Trung ương Hội vận động được 23 tỷ đồng. Đồng thời cũng đã vận động đựơc Hội Chữ thập đỏ Hoa kỳ triển khai dự án giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam tại 17 tỉnh với số tiền 867.000 đô la Mỹ.[2]

c) Trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân:

Cấc cấp Hội Chữ thập đỏ là tổ chức xã hội có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, tuyên truyền phổ biến kiến thức vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh môi trường, kiến thức y học thông thường cho hội viên và nhân dân nhằm giúp nâng cao nhận thức bảo vệ sức khỏe cho bản thân và xã hội, trồng cây thuốc nam, xây dựng các trạm, chốt sơ cấp cứu, phát triển phong trào hiến máu nhân đạo, sơ cấp cứu ban đầu, xây dựng nếp sống vệ sinh, môi trường trong sạch. Trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ của Hội, Chính phủ ban hành nhiều văn bản quy định về vấn đề này, như: Quyết định số 139/2002/QĐ-TTg về khám chữa bệnh cho người nghèo; Thông tư số 01/2002/TT-BYT ngày 6/2/2002 của Bộ Y tế hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh nhân đạo... Các văn bản này góp phần quan trọng tạo nên những chuyển biến rõ nét trong công tác chăm sức khoẻ nhân dân, đặc biệt đối với những người nghèo. Đối với công tác hiến máu nhân đạo, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 43/2000/QĐ-TTg về việc vận động và khuyến khích nhân dân hiến máu tình nguyện. Các bộ, ngành cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, như: Quyết đinh số 1995/2004/QĐ-BYT ban hành quy định việc cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện; Thông tư số 40/2007/TT-BTC hướng dẫn nội dung mức chi cho công tác tuyên truyền, vận động thu gom, sàng lọc một đơn vị máu đạt tiêu chuẩn. Các văn bản pháp luật nói trên đã thực sự tạo dựng hành lang pháp lý để hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu phát triển với nhiều hình thức mới, phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu thường xuyên tại chỗ của nhân dân.

 d) Trong hoạt động thu chi tài chính của Hội:

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 2552/TCCP-TC ngày 20/11/1995 và Thông tư số 85/1997/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 245 (đã được thay thế bởi Thông tư số 07/2005/TT-BTC hướng dẫn quản lý tài chính đối các hoạt động của Hội Chữ thập đỏ). Nội dung các văn bản này tập trung hướng dẫn việc xác định rõ các nguồn thu tài chính, cơ chế sử dụng, quản lý, thanh quyết toán đối với mỗi nguồn thu tài chính, đảm bảo tính minh bạch, công khai, không để thất thoát trong quản lý và sử dụng tài chính của Hội Chữ thập đỏ.

 

NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CHUNG

 

          Những kết quả đạt được trong công tác xây dựng và thực hiện pháp luật về hoạt động Chữ thập đỏ một mặt đã tạo nên những chuyển biến quan trọng trong hoạt động nhân đạo, đồng thời khẳng định:

          1. Hoạt động xây dựng pháp luật hoạt động chữ thập đỏ được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, thể hiện qua việc Đảng CSVN đã ban hành không dưới 10 văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo trong đó có 02 văn kiện quan trọng, đó là Chỉ thị 14, Nghị quyết 8B của Ban chấp hành Trung ương Đảng, đó là kim chỉ nam cho tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trên suốt chặng đường phát triển.

          2. Các chính sách của Đảng và Nhà nước đã góp phần đáng kể trong quản lý các hoạt động nhân đạo nói chung, trong phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Chữ thập đỏ nói riêng. Tuy chưa ban hành được văn bản có hiệu lực pháp lý cao, chứa đựng các quy phạm điều chỉnh chung, toàn diện về hoạt động Chữ thập đỏ nhưng trong nhiều lĩnh vực hoạt động nhất là những hoạt động cơ bản, thường xuyên, quan trọng của Hội đã có văn bản cụ thể điều chỉnh. Qua đó, tạo dựng bước đầu hành lang pháp lý để các hoạt động của Hộ có cơ sở hình thành, duy trì và phát triển, mang lại những lợi ích thiết thực cho những người có hoàn cảnh thực sự khó khăn, cần được toàn xã hội quan tâm giúp đỡ.

          3. Pháp luật về hoạt động Chữ thập đỏ được ban hành trong những năm qua đã thực sự mang lại kết quả to lớn trong thực tiễn hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, góp phần phát huy sức mạnh của cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong các hoạt động nhân đạo tại Việt Nam và cũng là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý, đưa các hoạt động nhân đạo Việt Nam phát triển đúng hướng, thực sự vì con người, thực sự vì mục đích nhân đạo.

 

PHẦN THỨ HAI

NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CHỮ THẬP ĐỎ

 

I. Những hạn chế, bất cập trong công tác xây dựng pháp luật hoạt động Chữ thập đỏ

 1. Nhiệm vụ thể chế hoá các văn bản chỉ đạo của Đảng về hoạt động Chữ thập đỏ thành các văn bản quy phạm pháp luật mặc dù đã được triển khai thực hiện nhưng chưa được thật sự quan tâm đúng mức và thường xuyên khiến một số nội dung quan điểm, chủ trương của Đảng mặc dù rất thiết thực nhưng chưa kịp thời được thể chế hoá để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn.

Trong 60 năm qua, kể từ thời điểm Hội Chữ thập đỏ được thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, Đảng CSVN đã ban hành khoảng 10 văn bản chỉ đạo công tác tổ chức và hoạt động của Hội. Tuy vậy, để thể hoá các đường lối chỉ đạo của Đảng, Thủ tướng Chính phủ mới ban hành duy nhất một văn bản hướng dẫn thực hiện, đó là Chỉ thị 254/TTg ngày 16/5/1994. Qua một thời gian triển khai thực hiện, nhiều quy định của Chỉ thị 254/TTg đã trở nên lạc hậu, thậm chí có một số quy định không còn phù hợp với nguyên tắc chỉ đạo của Đảng thể hiện trong các văn kiện mới ban hành do sự phát triển của tình hình kinh tế-xã hội của đất nước. Ví dụ như: Theo tinh thần chỉ đạo của Chỉ thị 14/CT-TW của BCHTW Đảng ngày 7/9/1987 Về việc củng cố tổ chức, phát huy tác dụng tích cực của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã nêu rõ cần phát triển và củng cố tổ chức của Hội, lãnh đạo Hội ở cả 03 cấp tỉnh, huyện, xã, trong đó cần cả cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách. Tuy nhiên, Chỉ thị 254/TTg lại hướng dẫn: “Cán bộ của Hội ở cấp cơ sở, kể cả cán bộ lãnh đạo và nhân viên đều là tình nguyện và kiêm nhiệm".

2. Các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ còn quy định tương đối tản mạn về phạm vi, đối tượng điều chỉnh dẫn tới tình trạng vừa thừa, vừa thiếu các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ. Ví dụ, trong thời gian qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về hoạt động hiến máu nhân đạo được ban hành, như Quyết định số 43/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc vận động và khuyến khích nhân dân hiến máu tình nguyện; Quyết định số 1995/2004/QĐ-BYT; Thông tư số 40/2007/TT-BTC hướng dẫn nội dung mức chi cho công tác tuyên truyền, vận động thu gom, sàng lọc một đơn vị máu đạt tiêu chuẩn tuy nhiên hiện nay hành lang pháp lý điều chỉnh trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập nhất là cơ chế chỉ đạo, phối hợp, quản lý tổ chức, chỉ đạo từ trung ương đến địa phương chưa thống nhất[3]; kinh phí cho công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia hiến máu tình nguyện còn hạn chế, gây khó khăn, lúng túng cho địa phương trong quá trình áp dụng.

3. Các văn bản chỉ đạo của Đảng đã xác định Hội Chữ thập đỏ Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong các hoạt động nhân đạo nhưng cụ thể của vai trò đó như thế nào, nội dung, phương thức thực hiện ra sao thì chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng, khiến cho các tổ chức tiến hành hoạt động nhân đạo vẫn hoạt động chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn, đôi khi chưa tạo lập được sự công bằng, đảm bảo các đối tượng khó khăn đều được hỗ trợ quan tâm để vươn lên trong cuộc sống, kể cả trong vận động và phân bổ nguồn lực vận động được. Người dân còn phải đóng góp nhiều khoản cho nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau phục vụ hoạt động nhân đạo.

4. Hoạt động nội luật hoá các cam kết, quy định quốc tế chưa đáp ứng được yêu cầu trong tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ. Việt Nam đã ra nhập bốn Công ước Geneve về Luật nhân đạo và là thành viên của nhiều Điều ước quốc tế cơ bản khác trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến luật nhân đạo quốc tế. Có thể thấy, chúng ta đã tham gia vào các cam kết quốc tế tương đối nhiều, tuy nhiên hoạt động chuyển hoá những nội dung của cam kết đã tham gia chưa thực sự đem lại hiệu quả áp dụng cao. Chẳng hạn như việc quy định vần đề biểu tượng của Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Mặc dù Hội đã chọn được biểu tượng là hình Chữ thập đỏ đặt trên nền trắng, là một trong hai biểu tượng của hoạt động nhân đạo quốc tế (Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ) song khi cụ thể hoá quy định quốc tế về quản lý và sử dụng biểu tượng vào pháp luật trong nước không chặt chẽ, dẫn đến tình trạng lạm dụng biểu tượng Chữ thập đỏ như hiện nay.

II. Những hạn chế, bất cập trong thi hành pháp luật về hoạt động Chữ thập đỏ

1. Nội dung của pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ còn có những quy định thiếu chặt chẽ, chưa phù hợp với thực tiễn và chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động nhân đạo.

Các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ hiện nay ở trong tình trạng vừa thừa, vừa thiếu, không những không đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của hội mà còn gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động quản lý.

Nghị định 88/2003 NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và Thông tư 01/2004/TT-BNV ngày 15/1/2004 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 88 không quy định rõ ràng, cụ thể về đầu mối quản lý riêng cho các hội mà chỉ quy định cơ quan quản lý nhà nước chung nhất. Điều 15 - Nghị định 88 quy định: Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất, giải thể và phê duyệt Điều lệ đối với các hội có phạm vi hoạt động trong cả nước hoặc liên tỉnh. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập, hợp nhất; giải thể và phê duyệt Điều lệ hội đối với hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh”.

Như vậy, việc có một cơ quan quản lý trực tiếp về hoạt động hội thì chưa được pháp luật quy định, dẫn đến tình trạng lúng túng, khó khăn trong hoạt động vì không biết xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn về hoạt động của Bộ nào, ngành nào, không biết báo cáo trực tiếp cho Bộ nào, ngành nào. Còn ở các tỉnh thì đầu mối quản lý các tổ chức hoạt động Chữ thập đỏ không thống nhất, có tỉnh thuộc Ban dân vận, có nơi hoạt động theo khối văn xã trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có nơi lại trực thuộc Mặt trận tổ quốc tỉnh...

Bên cạnh việc không quy định rõ cơ quan quản lý, pháp luật cũng chưa quy định rõ nội dung quản lý, cơ chế quản lý và phương thức quản lý đối với hội nhân đạo. Vì vậy, ở một góc độ nào đó, Bộ Nội vụ cũng chưa coi trọng vấn đề này, chưa có sự phân công, phân nhiệm cụ thể cho đơn vị làm đầu mối nghiên cứu, tham mưu, đề xuất trong việc quản lý các hội, dẫn đến việc quản lý đối với hoạt động Chữ thập đỏ còn lỏng lẻo, kém hiệu quả.

2. Pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ chưa kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh và tồn tại trong tình hình mới. Trong thực tế tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ ở nước ta hiện nay có nhiều vấn đề đã và đang tồn tại, phát sinh song chưa được pháp luật điều chỉnh. Chẳng hạn trong cùng một địa bàn, một ngành, có nên cho hai hội cùng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ cùng tồn tại và hoạt động không. Nếu như xem xét từ góc độ quản lý xã hội sao cho có trật tự, ít chồng chéo, ít lãng phí tiềm lực xã hội, việc quản lý của nhà nước bớt phức tạp và đảm bảo tiêu chí của việc lập hội là tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân thì không thể để cho trong cùng một địa bàn, một ngành có hai hội như vậy cùng hoạt động. Song nếu xem xét dưới góc độ pháp lý, khi đã có luật về hội và quy chế hội rõ ràng, chặt chẽ, lại muốn cho xã hội hoạt động sôi nổi, tăng cường tính thi đua, cạnh tranh lành mạnh giữa các nhóm người lao động, buộc lãnh đạo các hội phải khắc phục tính trì trệ, bảo thủ, cải tiến nội dung, phương pháp hoạt động của họ và của hội thì đó lại là điều nên làm. Pháp luật về hội nhân đạo ở nước ta còn bỏ ngỏ vấn đề này làm cho không chỉ bộ máy nhà nước có tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ mà các hội nhân đạo cũng bị trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ. Thực tế đã và đang cho thấy nếu không sớm quy định rõ ràng vấn đề này, Nhà nước sẽ không quản lý được hoạt động của hội và không giải quyết được những mâu thuẫn, vướng mắc giữa các hội có nội dung hoạt động gần giống nhau. Sẽ rất khó phân định đâu là sự khác nhau giữa Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam trực thuộc Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Hội nạn nhân chất độc da cam.

Như vậy, bên cạnh những ưu điểm rất đáng ghi nhận thì pháp luật về hội nhân đạo ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, cả về mặt lịch sử và bản thân nội dung của các văn bản pháp luật. Những hạn chế đó đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để bảo đảm cho pháp luật về hội không bị lạc hậu, theo kịp với sự phát triển của xã hội hiện nay.

3. Một số quy định áp dụng chung trong phạm vi cả nước nhưng chưa được thực hiện thống nhất như Nghị định số 121/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện chế độ phụ cấp đối với Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ cơ sở trong phạm vi toàn quốc, tuy nhiên có một số tỉnh thành vẫn chưa thực hiện chế độ phụ cấp hoặc mức trợ cấp còn chưa thống nhất.

4. Về đầu mối vận động quyên góp, cứu trợ nhân đạo chưa thống nhất. Hiện tại tuy Nhà nước coi Hội CTĐ Việt nam là một cơ quan nòng cốt trong các hoạt động nhân đạo nhưng trên thực tế cơ chế, chính sách chưa có hoăc chưa rõ, nhiều đơn vị cùng tiến hành vận động quyên góp cho cùng một hoạt động nhân đạo nhất định dẫ đến chồng chéo chức năng, lấn sân nhau khó khăn cho việc quản lý và gây tâm lý không tốt đối với công chúng.

 

PHẦN THỨ BA

 KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN

 PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHỮ THẬP ĐỎ

 

Từ những nhận định, đánh giá tương đối chi tiết, đầy đủ như đã nêu trên, có thể thấy rằng việc thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ ở Việt Nam trong thời gian qua có rất nhiều điểm hạn chế, bất cập mà nguyên nhân chủ yếu là do chưa có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao như Luật hoặc Pháp lệnh Hoạt động Chữ thập đỏ điều chỉnh. Chính vì vậy, để có thể đưa hoạt động CTĐ ở Việt Nam phát triển ở một tầm cao mới, xây dựng và ban hành Luật Hoạt động Chữ thập đỏ là một nhiệm vụ hết sức cần thiết, khẩn trương.

Hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật hoạt động Chữ thập đỏ Việt Nam đã và đang có một số khó khăn, vướng mắc cần phải khắc phục để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành Luật Hoạt động Chữ thập đỏ trong thời gian tới. Cụ thể:

1. Trong xây dựng pháp luật: Sự gián đoạn bởi chiến tranh, những biến cố lịch sử quan trọng của đất nước, nhất là trong giai đoạn đầu khi Hội Chữ thập đỏ Việt Nam mới được thành lập nên công tác xây dựng pháp luật về tổ chức và hoạt động chữ thập đỏ chưa được thật sự quan tâm đúng mức, đúng với tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của hoạt động này. Cơ chế phối hợp trong hoạt động xây dựng văn bản pháp luật về hoạt động Chữ thập đỏ còn lỏng lẻo, thiếu thống nhất, kém hiệu quả. Đây là một trong những hạn chế không phải hiếm gặp trong công tác xây dựng văn bản pháp luật hiện nay của Việt Nam.

Công tác khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ pháp luật trước khi bắt tay vào xây dựng các văn bản pháp luật chưa được thực hiện hiệu quả nên có những lĩnh vực hoạt động mà thực tế đang cần có văn bản điều chỉnh nhưng lại chưa được kịp thời xây dựng hoặc có trường hợp mặc dù được ban hành nhưng lại chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đòi hỏi của hoạt động chữ thập đỏ. Bên cạnh đó, yêu cầu nghiên cứu và khẩn trương soạn thảo ban hành một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao dưới hình thức văn bản luật về hoạt động Chữ thập đỏ để làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai toàn diện, trên quy mô rộng lớn, bảo đảm nâng cao hoạt động quản lý nhà nước trong công tác từ thiện nhân đạo, từng bước ổn định và đưa công tác này vào nề nếp đòi hỏi phải tiến hành các hoạt động đúng trình tự, thủ tục và bước đi theo quy định của Điều 26 khoản 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002). Việc tuân thủ trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành luật bảo đảm cho luật ban hành có chất lượng cao và khả thi trong thực tiễn, đáp ứng các yêu cầu của quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động Chữ thập đỏ. Việc tiến hành các hoạt động và xây dựng Báo cáo tổng kết tình hình thi hành pháp luật về hoạt động Chữ thập đỏ cũng chính là một trong những nhiệm vụ mà Ban soạn thảo Dự án Luật phải triển khai thực tiễn theo quy định của Điều 26 khoản 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nêu trên.

2. Trong thực hiện pháp luật: Do văn bản quy phạm pháp luật ban hành chậm, thiếu và trong nhiều trườgn hợp không đồng bộ, thống nhất nên đã gây ra tình trạng lúng túng, khó khăn của các cấp Hội Chữ thập đỏ khi triển khai các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của mình ở các cấp Hội trong cả nước. Bên cạnh đó, có những vấn đề phát sinh và tồn tại trong tình hình mới mà pháp luật về tổ chức và hoạt động Chữ thập đỏ chưa kịp thời điều chỉnh dẫn đến thiếu một hành lang pháp lý vững chắc và đầy đủ phục vụ cho việc triển khai trên diện rộng và quy mô lớn của hoạt động Chữ thập đỏ. Chẳng hạn như hoạt động mở rộng rừng ngập mặn chống lũ, trồng cây chống sóng biển, phòng ngừa thảm họa... 

3. Kiến nghị: Để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện pháp luật hoạt động về hoạt động Chữ thập đỏ, Ban soạn thảo Dự án Luật có một số kiến nghị chủ yếu sau đây:

3.1 Trong hoạt động xây dựng và ban hành Dự án Luật hoạt động Chữ thập đỏ

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm, không ngừng củng cố, phát triển cả về tổ chức và hoạt động của hội. Thể hiện qua việc Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, trong đó có nhiều văn bản có chứa quy phạm quan trọng điều chỉnh tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ. Tuy nhiên, hiệu quả pháp luật về tổ chức và hoạt động Hội chữ thập đỏ chưa ngang tầm với nhiệm vụ của Hội, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay. Nguyên nhân chủ yếu là các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động chữ thập đỏ có hiệu lực pháp lý thấp, tản mạn. Chúng ta chưa xây dựng và ban hành được luật về hoạt động nhân đạo như ở nhiều nước. Ngay cả một số nước trong khu vực cũng đã ban hành luật hoạt động Chữ thập đỏ từ rất sớm như Indonesia, Thái Lan, Singapore, Philippines, Cam-pu-chia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc...  Chính vì vậy, ban hành Luật hoạt động Chữ thập đỏ là nhiệm vụ trước mắt, cấp thiết của Việt Nam

Đổi mới công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành trong xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Luật Hoạt động Chữ thập đỏ và các văn bản hướng dẫn thi hành. Công tác phối hợp cần chặt chẽ và chủ động đảm bảo tiến độ xây dựng và ban hành Luật. Xây dựng Luật Hoạt động chữ thập đỏ trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật hoạt động Chữ thập đỏ ở Việt Nam thời gian qua. Đồng thời, cần tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế về kinh nghiệm và tài chính, rà soát, hệ thống hoá pháp luật đảm bảo đúng tiến độ soạn thảo, đúng trình tự, thủ tục do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định. Dự án Luật hoạt động Chữ thập đỏ cần phải thể hiện được quan điểm chỉ đạo chủ yếu sau đây:

Một là, Dự án Luật phải quán triệt đầy đủ và thể hiện rõ ràng, toàn diện các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng CSVN về hoạt động nhân đạo, về vị trí và vai trò nòng cốt của Hội Chữ thập đỏ trong các hoạt động nhân đạo. Hai là, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và vững chắc cho việc phát huy vai trò của Hội Chữ thập đỏ các cấp trong hoạt động nhân đạo, tạo điều kiện thuận lợi và hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất để các hoạt động cứu trợ nhân đạo, phòng ngừa, ứng phó các thảm họa, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tìm kiếm tin tức thân nnhân và tuyên truyền các giá trị nhân đạo. Ba là, Dự án Luật hoạt động Chữ thập đỏ cần bảo đảm kế thừâ các quy định pháp luật được thực thi có hiệu quả trong hệ thống pháp luật hiện hành và nâng cấp lên thành các quy định của Luật. Đồng thời, Dự án Luật cũng là kết quả của hoạt động đúc kết thực tiễn, kinh nghiệm của hoạt động Chữ thập đỏ hơn một nửa thế kỷ qua, thể hiện tính dự báo cáo và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay. Bốn là, Dự án Luật phải bảo đảm phù hợp và tương thích với các quy định và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhân đạo quốc tế về hoạt động Chữ thập đỏ. Đồng thời bảo đảm thực hiện và phát huy vai trò, ảnh hưởng rộng lớn của các quy định pháp luật quốc tế về hoạt động nhân đạo ở Việt Nam.

3.2 Những vấn đề cơ bản của Luật

- Cần xây dựng các nguyên tắc của hoạt động Chữ thập đỏ; các chính sách của Nhà nước Việt Nam về hoạt động Chữ thập đỏ; quy định cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ, nội dung quản lý nhà nước đối với các hoạt động này. Cũng cần quy định theo hướng thật cụ thể về các hoạt động của Hội Chữ thập đỏ, (phạm vi áp dụng, nội dung hoạt động, chủ thể chủ trì, phối hợp) bảo đảm thống nhất đầu mối hoạt động;

- Nguyên tắc tổ chức hoạt động, nhiệm vụ của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trên cơ sở ghi nhận Hội Chữ thập đỏ là nòng cốt trong các hoạt động nhân đạo;

- Quy định về tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn lực cho hoạt động Chữ thập đỏ; về Quỹ nhân đạo: nguồn quỹ, quản lý và sử dụng quỹ nhân đạo phải công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp luật; nhất là vấn đề nguồn quỹ;

 - Vấn đề trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong hoạt động Chữ thập đỏ.

 - Vấn đề biểu tượng Chữ thập đỏ; việc quản lý và sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ; vấn đề biểu tượng Chữ thập đỏ quốc tế, Trăng lưỡi liềm đỏ, Pha lê đỏ quốc tế và hợp tác quốc tế trong các hoạt động Chữ thập đỏ nhằm khắc phục tình trạng sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ bừa bãi, sai mục đích như hiện nay.

- Vấn đề hợp tác quốc tế trong hoạt động Chữ thập đỏ.

Có thể nói, trong số những vấn đề chủ yếu nêu trên thì có những vấn đề đã được quy định rải rác, tản mạn trong một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với hiệu lực pháp lý thấp; thậm chí có những vấn đề được quy định chồng chéo, không thống nhất giữa các văn bản. Trong các vấn đề nêu trên cũng có những nội dung chưa được quy định hoặc quy định chung, thiếu tính cụ thể nên thực hiện không thống nhất hoặc khó thực hiện trong thực tiễn. Vấn đề cốt yếu là việc xây dựng các quy phạm trong Luật sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để thực thi trong thực tiễn hoặc để tiếp tục quy định cụ thể bằng các văn bản dưới luật. Như vậy, cùng với Luật hoạt động Chữ thập đỏ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật sẽ tạo thành khung pháp lý hoàn chỉnh, toàn diện, có hiệu lực pháp lý cao để phục vụ cho việc thực hiện các hoạt động nhân đoạ trong thực tiễn. 

Sau khi Luật hoạt động Chữ thập đỏ được quốc hội thông qua và đi vào cuộc sống sẽ đem lại những tác động kinh tế xã hội to lớn. Trước hết Luật hoạt động Chữ thập đỏ sẽ tạo cơ sở pháp lý để kịp thời triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chủ động tạo nguồn và sử dụng tài chính có hiệu quả; gây được lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân cũng như bạn bè quốc tế, đồng thời triệt tiêu những ảnh hưởng bất lợi do việc lợi dụng hoạt động nhân đạo và mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ cũng như các cơ quan đại diện ngoại giao.

3.3 Trong hoạt động thực thi pháp luật về hoạt đông Chữ thập đỏ

Mọi quy định của pháp luật, dù có hiệu lực cao đến mấy nhưng không được triển khai thực hiện hoặc thực hiện không đúng trong thực tiến sẽ làm mất hoặc giảm thiểu vai trò của luật pháp trong quản lý xã hội; thậm chí vô hiệu hoá các quy định của pháp luật. Để thực thi đầy đủ, toàn diện và có hiệu quả Dự án Luật khi được Quốc hội xem xét ban hành thì bên cạnh việc triển khai sớm và có hiệu quả các quy định các quy định về tổ chức, các hoạt động Chữ thập đỏ, đồng thời cơ quan quản lý nhà nước và các cấp hội Chữ thập đỏ cũng cần tập trung vào một số công việc chủ yếu như: phổ biến, tuyền truyền, giáo dục pháp luật, về thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật nhằm nâng cao một bước cơ bản hiệu lực, hiệu quả hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật về hoạt động Chữ thập đỏ.  

 

 

TRUNG ƯƠNG HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ ba

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

                                                 

ĐIỀU LỆ

HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

(Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2007)

 

Dân tộc Việt Nam vốn giàu lòng yêu nước, thương người. Càng trong hoạn nạn khó khăn, tinh thần đó càng được nhân lên gấp bội.

     Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ra đời nhằm kế tục và phát huy truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc ta đã được lưu truyền qua bao thế hệ.

Hội được thành lập ngày 23 tháng 11 năm 1946, được Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ chính thức công nhận ngày 01 tháng 11 năm 1957 và được Hiệp hội Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế chính thức công nhận ngày 04 tháng 11 năm 1957. Hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và làm Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội. Người dạy cán bộ, hội viên : “Phải xuất phát từ tình yêu thương nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khoẻ nhân dân và làm mọi việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”.

     Ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ đã và đang cống hiến trí tuệ và công sức của mình để xây dựng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam ngày càng phát triển và trưởng thành. Từ khi thành lập đến nay, Hội đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, hoạt động tích cực vì mục đích nhân đạo, hoà bình, hữu nghị trong phong trào Chữ thập đỏ - Trăng Lưỡi liềm đỏ Quốc tế.

    Bước vào thời kỳ mới, với những thời cơ và thách thức mới; Hội Chữ thập đỏ Việt Nam càng ra sức phát huy bản chất tốt đẹp, tiếp tục đổi mới, nỗ lực vượt mọi khó khăn, đoàn kết, vươn lên làm nòng cốt trong hoạt động nhân đạo của đất nước.

 

Chương I

TÔN CHỈ, MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ

 

Điều 1: Tôn chỉ, mục đích của Hội

Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là tổ chức xã hội nhân đạo của quần chúng. Hội tập hợp mọi người Việt Nam, không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, nam nữ…để làm công tác nhân đạo.

          Hội vận động các cá nhân, tổ chức cùng tham gia các phong trào tương thân tương ái, hoạt động nhân đạo phát triển, nâng cao tình nhân ái, phục vụ đời sống, sức khoẻ nhân dân trong đó ưu tiên những người khó khăn nhất.

    Mục đích cao cả của Hội là nhân đạo, hoà bình, hữu nghị, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

     Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

     Hội hoạt động trong phạm vi cả nước, theo Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo Điều lệ Hội và 7 nguyên tắc cơ bản của phong trào quốc tế Chữ thập đỏ: Nhân đạo, Vô tư, Trung lập, Độc lập, Tự nguyện, Thống nhất, Toàn cầu. 

Điều 2: Tư cách pháp nhân của Hội

          Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Trụ sở của Trung ương Hội đặt tại Hà Nội - Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Biểu tượng của Hội là Chữ thập đỏ trên nền trắng, được sử dụng theo các Công ước Geneva 1949, các Nghị định thư bổ sung, Nghị quyết năm 1991 về việc các hội quốc gia sử dụng biểu tượng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

     Bài hát chính thức của Hội là “Sức mạnh của nhân đạo” của Nhạc sỹ Phạm Tuyên.

 Điều 3: Nhiệm vụ của Hội

          1. Tuyên truyền vận động cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ, người tình nguyện Chữ thập đỏ và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước tham gia các hoạt động nhân đạo của Hội, các chương trình nhân đạo xã hội của Nhà nước, trong các lĩnh vực: cứu trợ nhân đạo, phòng ngừa và ứng phó thảm hoạ; chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân thiên tai, nạn nhân chiến tranh, những người khuyết tật, trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa; tìm kiếm tin tức thân nhân và gia đình mất liên lạc trong và ngoài nước; giúp đỡ những người khó khăn, hoạn nạn vươn lên hoà nhập cộng đồng.

2. Tuyên truyền vận động hội viên và nhân dân tham gia hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân: các chương trình chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng của Nhà nước trong các lĩnh vực: sơ cấp cứu ban đầu; vận động hiến máu cứu người; trồng và sử dụng cây thuốc Nam; tham gia phong trào vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ môi trường; phòng chống dịch và các tệ nạn xã hội…

3. Phối hợp với Hiệp hội Chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế và Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ các nước đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới, tăng cường quan hệ hợp tác, phát triển vì hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc và sự tiến bộ của phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Hợp tác với Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế tuyên truyền và thúc đẩy việc thực hiện 4 công ước Geneve; Nghị định thư bổ sung số I năm 1977; 7 nguyên tắc cơ bản và các Nghị quyết của phong trào quốc tế Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ.

4. Xây dựng Hội vững mạnh, phát triển tổ chức và nâng cao chất lượng cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên, tình nguyện viên Chữ thập đỏ. Đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ và tình nguyện viên Chữ thập đỏ Việt Nam.

 

Chương II

LỰC LƯỢNG CỦA HỘI

 

     Lực lượng của Hội gồm hội viên, thanh thiếu niên chữ thập đỏ và tình nguyện viên chữ thập đỏ.

     Điều 4: Hội viên

     Những người Việt Nam từ đủ 16 tuổi trở lên, tán thành Điều lệ Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, tự nguyện gia nhập Hội và đóng hội phí, thực hiện các quy định của Điều lệ Hội, tham gia sinh hoạt trong tổ chức của Hội, được công nhận là hội viên của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

    Hội viên gồm:

    1. Hội viên hoạt động là những người trực tiếp và thường xuyên tham gia các hoạt động của Hội và sinh hoạt ở một tổ chức cơ sở của Hội.

    2. Hội viên tán trợ là những người trực tiếp ủng hộ và vận động người khác ủng hộ các nguồn lực để Hội thực hiện nhiệm vụ.

     3. Hội viên danh dự là những người có uy tín cao trong nhân dân, có đóng góp lớn cho Hội.

     Điều 5: Nhiệm vụ của hội viên

1. Chấp hành Điều lệ và các Nghị quyết của Hội. Tuyên truyền tôn chỉ, mục đích của Hội trong các tầng lớp nhân dân; thường xuyên chăm lo phát triển hội viên và xây dựng Hội vững mạnh.

2. Thường xuyên tham gia sinh hoạt, hoạt động, thực hiện các nhiệm vụ của Hội và đóng hội phí đầy đủ.

3. Đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, trong hoạt động của Hội và tổ chức cuộc sống gia đình.

Hội viên tán trợ và hội viên danh dự tuỳ theo điều kiện và khả năng mà tham gia hoạt động và xây dựng tổ chức Hội.

Điều 6: Quyền của hội viên

1. Giới thiệu người để hiệp thương cử vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội.

          2. Đề xuất, thảo luận, biểu quyết và giám sát công việc của Hội.

          3. Tham gia sinh hoạt, hoạt động và tham dự các lớp đào tạo, tập huấn của Hội.

4. Được Hội bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng và giúp đỡ khi gặp khó khăn.

Điều 7: Thanh niên chữ thập đỏ và Đội thanh niên chữ thập đỏ xung kích

Các cấp Hội phối hợp với các ngành và đoàn thể liên quan tập hợp thanh, thiếu niên tham gia các hoạt động nhân đạo nhằm giáo dục lòng nhân ái cho thế hệ trẻ và xây dựng Hội vững mạnh.

Thanh niên chữ thập đỏ gồm những thanh niên là hội viên, thanh niên tình nguyện, tích cực tham gia các hoạt động của Hội, có điều kiện, khả năng hoàn thành nhiệm vụ và tự nguyện tham gia Thanh niên Chữ thập đỏ.

          Đội thanh niên chữ thập đỏ xung kích được các cấp Hội phối hợp với các ngành, đoàn thể thành lập và chỉ đạo hoạt động theo địa bàn dân cư, trường học, đơn vị công tác...

Điều 8: Nhiệm vụ và quyền hạn của thanh niên chữ thập đỏ và Đội thanh niên chữ thập đỏ xung kích

1. Thanh niên Chữ thập đỏ và Đội thanh niên Chữ thập đỏ xung kích là lực lượng xung kích trong hoạt động của Hội.

2. Được Hội huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ và tạo điều kiện trong sinh hoạt và hoạt động.

3. Được Hội bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng và giúp đỡ khi gặp khó khăn.

4. Được cấp thẻ Thanh niên Chữ thập đỏ xung kích.

Điều 9: Thiếu niên Chữ thập đỏ

Thiếu niên Việt Nam từ 9 tuổi đến đủ 16 tuổi tự nguyện tham gia hoạt động nhân đạo được tổ chức thành lực lượng Thiếu niên chữ thập đỏ.

Hoạt động của Thiếu niên chữ thập đỏ do Hội phối hợp với các ngành, đoàn thể có liên quan hướng dẫn cụ thể.

Điều 10: Tình nguyện viên chữ thập đỏ

      Tình nguyện viên chữ thập đỏ là những người tham gia các hoạt động nhân đạo và xây dựng tổ chức Hội ở một cấp Hội với tinh thần tự nguyện đều được công nhận là tình nguyện viên Chữ thập đỏ của cấp đó.

 

Chương III

NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG

VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỘI

 

Điều 11: Hệ thống tổ chức của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam

1. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được tổ chức theo 4 cấp:

- Trung ương Hội.

          - Tỉnh, thành Hội trực thuộc Trung ương.

          - Huyện, quận Hội và tương đương.

          - Hội cơ sở xã, phường và tương đương (dưới Hội cơ sở có chi Hội và tổ Hội).

          2. Các hình thức tổ chức linh hoạt:

     - Các cấp Hội được thành lập các chi hội trực thuộc, Ban bảo trợ nhân đạo và các hình thức tổ chức khác để đáp ứng kịp thời và linh hoạt yêu cầu phát triển về tổ chức và hoạt động nhân đạo của Hội.

    - Các hình thức tổ chức trên do cấp Hội thành lập trực tiếp lãnh đạo, quản lý theo đúng mục đích, nguyên tắc nhân đạo của Hội và các quy định hiện hành của Nhà nước.

Điều 12: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội

Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, hiệp thương, thống nhất hành động theo Điều lệ Hội và 7 nguyên tắc cơ bản của phong trào Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

Cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội thực hiện theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

     Nghị quyết và quyết định của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ các cấp Hội chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số uỷ viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cấp đó tán thành.

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp Hội là Đại hội cấp đó. Đại hội cấp nào do Ban Chấp hành cấp đó triệu tập. Số lượng đại biểu Đại hội cấp nào do Ban Chấp hành cấp đó quyết định. Thành phần đại biểu Đại hội gồm:

 - Đại biểu do Đại hội cấp dưới cử. Uỷ viên Ban Chấp hành cấp nào đương nhiên là đại biểu Đại hội cấp đó.

     - Ban Chấp hành cấp triệu tập Đại hội có quyền chỉ định đại biểu chính thức, nhưng không quá 10% tổng số đại biểu được triệu tập.

 Điều 13: Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực các cấp Hội

          1. Ban Chấp hành Hội cấp nào do Đại hội cấp đó cử ra, là cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp Hội giữa hai kỳ Đại hội.

Cơ cấu, số lượng ủy viên Ban Chấp hành cấp nào do Đại hội cấp đó quyết định. Đại hội các cấp uỷ quyền cho Ban Chấp hành cùng cấp khi cần thiết được cử thêm uỷ viên Ban Chấp hành, nhưng không quá 10% số lượng uỷ viên Ban Chấp hành do Đại hội cấp đó quyết định và được Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

          2. Ban Thường vụ cấp nào do Ban Chấp hành cấp đó cử ra, là cơ quan lãnh đạo của Hội giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành. Cơ cấu, số lượng uỷ viên Ban Thường vụ cấp nào do Ban Chấp hành cấp đó quyết định, nhưng không quá một phần ba (1/3) số uỷ viên chấp hành và do Đại hội quyết định và được Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

3. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ các cấp Hội được cơ cấu đại diện các ngành, các đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội, các cá nhân tiêu biểu trên cơ sở hiệp thương với các cá nhân và tổ chức có đại diện tham gia.

4. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ của từng cấp phải được Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

5. Cấp Trung ương Hội: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, Phó Tổng Thư ký là Thường trực của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội.

     Cấp tỉnh thành, quận, huyện Hội: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và uỷ viên Thường trực là bộ phận thường trực của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành cấp đó.

Thường trực Hội cấp nào có nhiệm vụ và quyền hạn thay mặt Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cấp đó chỉ đạo, điều hành, giải quyết mọi công việc của Hội giữa hai kỳ họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trên cơ sở chủ trương, Nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cấp đó và báo cáo kết quả công việc với Ban Chấp hành và Ban Thường vụ trong kỳ họp gần nhất.

Ban Chấp hành Hội cơ sở cử Chủ tịch, Phó chủ tịch và uỷ viên Thường trực. Chủ tịch, Phó Chủ tịch và uỷ viên Thường trực là bộ phận thường trực của Ban Chấp hành. Ban Chấp hành chi hội cử chi hội trưởng, chi hội phó. Tổ hội cử tổ trưởng, tổ phó.

6. Ban Chấp hành các cấp khi khuyết uỷ viên thì được quyền bổ sung nhưng không được quá một phần ba (1/3) số uỷ viên do Đại hội quyết định và phải được Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

Điều 14: Chủ tịch danh dự của Hội

Các cấp Hội được mời Chủ tịch danh dự. Việc mời Chủ tịch danh dự cấp nào do Đại hội hoặc Ban Chấp hành cấp đó quyết định trong nhiệm kỳ Đại hội của cấp đó.

Điều 15: Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội

Đại hội đại biểu toàn quốc 5 năm họp một lần. Đại hội có nhiệm vụ:

- Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ qua và quyết định phương hướng, nhiệm vụ của Hội nhiệm kỳ tới.

- Bổ sung, sửa đổi Điều lệ Hội.

- Cử Ban Chấp hành Trung ương Hội.

Nếu quá nửa các tỉnh, thành Hội yêu cầu hoặc có tình hình đặc biệt thì Ban Chấp hành Trung ương Hội triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường.

Điều 16: Đại hội các cấp của Hội

          1. Đại hội đại biểu cấp tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương 5 năm họp một lần; Hội cơ sở tổ chức Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu 5 năm một lần; Đại hội của chi Hội đặc thù và tổ chức Hội trong trường học do Ban Thường vụ Trung ương Hội quy định.

2. Đại hội các cấp có nhiệm vụ :

- Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ qua và quyết định phương hướng, nhiệm vụ của Hội nhiệm kỳ tới.

          - Cử Ban Chấp hành mới.

          - Tham gia ý kiến vào văn kiện Đại hội cấp trên và cử đại biểu đi dự Đại hội cấp trên (nếu có)

Điều 17: Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Chấp hành Trung ương Hội

1. Lãnh đạo toàn Hội thực hiện Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc.

2. Đánh giá kết quả công tác hàng năm và quyết định chương trình công tác năm tới của Hội.

3. Thông qua báo cáo tài chính hàng năm và việc tiếp nhận, phân phối, sử dụng viện trợ. Quy định việc đóng và sử dụng hội phí.

4. Cử Ban Thường vụ Trung ương Hội. Cử Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, Phó Tổng Thư ký. Cử Trưởng Ban, Phó Ban và các uỷ viên Ban Kiểm tra Trung ương Hội. Số lượng Phó Chủ tịch, Phó Tổng Thư ký, uỷ viên Ban Thường vụ, Phó Ban và uỷ viên Ban Kiểm tra do Ban Chấp hành Trung ương Hội quyết định.

Ban Chấp hành Trung ương Hội họp thường kỳ ít nhất một năm một lần. Nếu quá nửa các uỷ viên Ban Chấp hành yêu cầu hoặc có tình hình đặc biệt thì Ban Thường vụ triệu tập Ban Chấp hành họp bất thường.

          Điều 18: Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Thường vụ Trung ương Hội

1. Thay mặt Ban Chấp hành lãnh đạo mọi mặt công tác của Hội giữa hai kỳ hội nghị Ban Chấp hành.

2. Quyết định các chủ trương, biện pháp và tổ chức thực hiện Nghị quyết, chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Hội.

3. Tổng kết mô hình, chuyên đề và các hoạt động của Hội.

4. Quyết định các hình thức khen thưởng của Hội.

5. Ban Thường vụ Trung ương Hội họp thường kỳ ít nhất 6 tháng một lần. 

Điều 19: Nhiệm vụ và quyền hạn của Thường trực Trung ương Hội

          1. Thay mặt Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội chỉ đạo, điều hành, giải quyết mọi công việc của Hội giữa hai kỳ họp của Ban Thường vụ và báo cáo kết quả công việc với Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trong kỳ họp gần nhất.

2. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Hội.

3. Quyết định các biện pháp để kịp thời vận động, trợ giúp đồng bào các địa phương trong nước khi bị thiên tai, thảm hoạ.

4. Chỉ đạo việc tiếp nhận, quản lý, phân phối và sử dụng nguồn cứu trợ, viện trợ.

5. Giữ mối liên hệ và đại diện cho Hội trong các quan hệ đối nội và đối ngoại.

6. Lãnh đạo, quản lý, điều hành cơ quan Trung ương Hội; xây dựng cơ quan Trung ương Hội vững mạnh.

7. Tuỳ theo nhu cầu, Thường trực Trung ương Hội lập các Ban, đơn vị và trung tâm trực thuộc.

Điều 20: Tổ chức Hội cấp tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, cấp huyện, quận và tương đương

1. Hội nghị Ban Chấp hành cấp tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, cấp cấp huyện, quận và tương đương cử Ban Thường vụ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên Thường trực; cử trưởng ban, phó ban và các ủy viên Ban Kiểm tra cấp mình. Số lượng Phó chủ tịch, Uỷ viên Ban Thường vụ Phó Ban và uỷ viên Ban Kiểm tra cấp nào do Ban Chấp hành cấp đó quyết định.

          Ban Chấp hành cấp tỉnh, thành, tương đương được lập các Ban, đơn vị và trung tâm trực thuộc.

Ban chấp hành cấp huyện, quận và tương đương được lập các bộ phận chuyên môn các trung tâm, đơn vị trực thuộc.

2. Ban Chấp hành cấp tỉnh, thành trực thuộc Trung ương, huyện, quận và tương đương có nhiệm vụ:

- Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới thực hiện Nghị quyết Đại hội cấp mình và các chủ trương công tác của Hội cấp trên.

- Đánh giá kết quả công tác theo định kỳ và quyết định chương trình công tác tới.

- Thông qua việc thu, chi, tiếp nhận, phân phối, sử dụng hàng, tiền cứu trợ, viện trợ (nếu có).

- Chỉ đạo việc xây dựng quỹ Hội, việc thu và sử dụng hội phí.

3. Ban Chấp hành tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương họp thường kỳ ít nhất 6 tháng một lần. Ban Thường vụ cấp tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương họp thường kỳ ít nhất 3 tháng một lần.

Điều 21: Tổ chức Hội cơ sở xã, phường và tương đương

1. Hội cơ sở là nền tảng của Hội được thành lập theo địa bàn dân cư: xã, phường, thị trấn; trường học, cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, công, nông, lâm trường, bệnh viện… Hội cơ sở gồm nhiều chi hội, chi hội đông hội viên chia thành nhiều tổ hội.

2. Ban Chấp hành Hội cơ sở và Ban Chấp hành chi hội có nhiệm vụ:

- Tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội cấp mình và các chủ trương công tác của Hội cấp trên.

- Liên hệ mật thiết, động viên, khuyến khích và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ và tình nguyện viên Chữ thập đỏ Việt Nam.

- Xây dựng quỹ Hội, phát triển hội viên và xây dựng tổ chức Hội cơ sở vững mạnh.

3. Ban Chấp hành Hội cơ sở và Ban Chấp hành chi hội họp thường kỳ ít nhất 3 tháng một lần, tổ hội họp thường kỳ ít nhất một tháng một lần.

 

Chương IV

CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA HỘI

         

     Điều 22:

1. Kiểm tra là nhiệm vụ quan trọng của các cấp Hội. Lãnh đạo các cấp Hội phải chủ động, thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra. Tổ chức Hội và cán bộ, hội viên có trách nhiệm tham gia công tác kiểm tra của Hội, đồng thời chịu sự kiểm tra của Hội.

     2. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực các cấp Hội có nhiệm vụ lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra các tổ chức Hội và cán bộ, hội viên trong việc chấp hành chủ trương, Nghị quyết, nguyên tắc, chế độ, quy định về tổ chức và hoạt động của Hội.

          Điều 23: Ban Kiểm tra các cấp của Hội

1. Hội nghị Ban Chấp hành từ Trung ương đến huyện, quận và tương đương cử Ban Kiểm tra cấp mình. Hội cơ sở cử một uỷ viên Ban Chấp hành phụ trách công tác kiểm tra. Ban Kiểm tra các cấp gồm Trưởng Ban là uỷ viên Ban Thường vụ và một số uỷ viên trong và ngoài Ban Chấp hành. Việc công nhận và cho rút tên trong danh sách Ban Kiểm tra phải được Ban Chấp hành cùng cấp nhất trí và Hội cấp trên trực tiếp công nhận. Nhiệm kỳ của Ban Kiểm tra theo nhiệm kỳ của Ban Chấp hành cùng cấp.

2. Ban Kiểm tra các cấp có nhiệm vụ:

- Tham mưu cho các cấp Hội về công tác kiểm tra của Hội và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ và tình nguyện viên Chữ thập đỏ Việt Nam.

- Kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Hội; việc thu và sử dụng hội phí; các hoạt động kinh tế, tài chính; việc tiếp nhận, phân phối, sử dụng tiền, hàng cứu trợ, viện trợ của các đơn vị thuộc Ban Chấp hành cùng cấp và cấp dưới.

- Kiểm tra việc thi hành kỷ luật của tổ chức Hội cấp dưới.

- Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của cán bộ, hội viên.

Điều 24: Nguyên tắc làm việc của Ban Kiểm tra

          Ban Kiểm tra các cấp làm việc theo chế độ tập thể, chịu sự lãnh đạo của Ban Chấp hành cùng cấp và sự chỉ đạo của Ban Kiểm tra cấp trên. Trường hợp phải kiểm tra một uỷ viên Ban Chấp hành cùng cấp phải được sự đồng ý của Ban Thường vụ cấp đó, kiểm tra xong phải báo cáo để Ban Chấp hành quyết định. Thẩm quyền quyết định kỷ luật đối với Ban Kiểm tra hay một uỷ viên Ban Kiểm tra áp dụng như đối với tổ chức Hội hay một uỷ viên Ban Chấp hành cùng cấp.

 

Chương V

TÀI CHÍNH VÀ TÀI SẢN

 

          Điều 25: Tài chính của Hội

 Tài chính của Hội gồm:

          - Hội phí của hội viên.

          - Những khoản thu do hội viên tự nguyện đóng góp và tiền, hiện vật do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ.    

          - Ngân sách Nhà nước tài trợ.

          - Những khoản thu từ hoạt động kinh tế, dịch vụ theo quy định của pháp luật

          - Những khoản thu từ việc thực hiện nhiệm vụ và các chương trình của nhà nước và các chương trình dự án nước ngoài theo cam kết với Nhà tài trợ.

Việc quản lý, sử dụng tài chính của Hội phải thực hiện các quy định của Nhà nước, hướng dẫn của Trung ương Hội và Nhà tài trợ.

          Điều 26: Tài sản và việc lập Quỹ của Hội

          Hội có tài sản riêng và được mở tài khoản theo quy định của pháp luật. Các cấp Hội được lập quỹ nhân đạo, Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và các quỹ khác theo quy định của pháp luật để phục vụ hoạt động nhân đạo.

 

Chương VI

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

 

          Điều 27: Khen thưởng của Hội

Tổ chức Hội và cán bộ, hội viên, thanh, thiếu niên Chữ thập đỏ; tình nguyện viên Chữ thập đỏ và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có thành tích xuất sắc trong công tác Chữ thập đỏ thì được Hội khen thưởng hoặc đề nghị Nhà nước và các cấp Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp, Hiệp Hội, Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ hoặc các Hội quốc gia khác khen thưởng.

Điều 28: Kỷ luật của Hội

 Cán bộ, hội viên và tổ chức Hội hoạt động trái với Điều lệ, chủ trương, Nghị quyết của Hội hoặc làm tổn thương đến danh dự, uy tín của Hội thì tuỳ mức độ, tính chất sai lầm mà áp dụng một trong các hình thức kỷ luật:

- Đối với cán bộ, hội viên: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ ra khỏi Hội.

     - Đối với tổ chức Hội: khiển trách, cảnh cáo, đề nghị cấp có thẩm quyền giải tán tổ chức đó.

 

Chương VII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

          Điều 29: Hiệu lực thực hiện Điều lệ Hội

 Điều lệ này có hiệu lực kể từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc nhất trí thông qua và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

          Mọi cán bộ, hội viên và tổ chức Hội phải chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Hội.

          Điều 30: Sửa đổi và hướng dẫn thực hiện Điều lệ Hội

Chỉ có Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam mới có quyền sửa đổi, bổ sung và thông qua Điều lệ Hội.

          Điều lệ Hội và các nội dung sửa đổi được thông báo cho Hiệp Hội quốc tế Chữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ và Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ.

Ban Thường vụ Trung ương Hội có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Điều lệ Hội.

 

 

 

 

 

 

 


BÁO CÁO

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2001-2007 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2007-2011

 

 

PHẦN THỨ NHẤT

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2007

 

I. Tăng cường xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động, lấy cơ sở làm điểm xuất phát cho mọi chủ trương hành động

1. Công tác xây dựng Hội được tiến hành với quyết tâm cao, biện pháp tích cực, tạo chuyển biến thiết thực trên nhiều lĩnh vực

Trong sáu năm qua, các cấp Hội đã có chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, quyết tâm và có chủ trương, biện pháp tích cực, chủ động củng cố, xây dựng và phát triển tổ chức Hội, đẩy mạnh các hoạt động như: Điều chỉnh cơ cấu tổ chức, điều tra, khảo sát, phân loại cơ sở, chỉ đạo điểm từng khu vực, từng loại hình tổ chức, nghiên cứu các chuyên đề: Mô hình công tác xã hội, mô hình phòng khám chữa bệnh nhân đạo, mô hình Đoàn thầy thuốc tự nguyện, mô hình tổ chức và hoạt động của lực lượng tình nguyện viên, mô hình câu lạc bộ 100 + 5 của Hội CTĐ thành phố Hải Phòng...  Chỉ đạo, tổ chức và triển khai các hoạt động một cách chủ động, nhạy bén, kịp thời với những nội dung, chỉ tiêu, biện pháp cụ thể và tổ chức thực hiện với quyết tâm và trách nhiệm cao, có tổng kết, đánh giá, khen thưởng kịp thời như: Phong trào “Tháng hành động vì người khuyết tật nghèo, vì nạn nhân chất độc da cam”, phong trào “Tết vì người nghèo”, cuộc vận động “Vì nạn nhân bị động đất sóng thần tại các nước Đông Nam Châu á và Nam á”; tổ chức Đại hội thi đua yêu nước nhằm tôn vinh các tập thể điển hình, cá nhân xuất sắc… Với những nỗ lực nêu trên, tổ chức Hội đã được củng cố, kiện toàn, phát triển sâu rộng cả về lượng và chất, nổi bật là:

- Đến nay, các tỉnh, thành, quận, huyện, thị và Hội cơ sở đã tổ chức Đại hội xong, qua Đại hội, các cấp Hội đã kiện toàn về tổ chức và cán bộ với số lượng hợp lý, chất lượng được nâng cao, từng bước vươn lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Hiện nay, 4 cấp Hội có 11.900 cán bộ chuyên trách hầu hết là những người có phẩm chất, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo phong trào; 100% tỉnh, thành, quận, huyện, thị và 95% xã, phường, 80% trường học và 45% cơ quan công, nông, lâm trường đã có tổ chức Hội; hơn 9 triệu người thường xuyên tham gia các hoạt động của Hội (trong đó có hơn 5 triệu hội viên, 4 triệu thanh, thiếu niên CTĐ và 100.000 tình nguyện viên, tăng hơn 1 triệu hội viên và có lực lượng mới là thanh, thiếu niên CTĐ so với nhiệm kỳ VI).

 

            Trong nhiệm kỳ qua, một số mô hình tổ chức Hội mới tại tỉnh Lào Cai như: Hội Chữ thập đỏ khối cơ quan dân chính đảng tỉnh, Hội Chữ thập đỏ khối doanh nghiệp tỉnh đã thu hút được đông đảo lực lượng cán bộ, công chức và lực lượng lao động ở khối doanh nghiệp tham gia tổ chức Hội và các hoạt động nhân đạo, phát huy tốt vai trò của Hội.

- Việc tháo gỡ khó khăn về cơ chế, chính sách đối với tổ chức và hoạt động của Hội đã được các cấp Hội chủ động, tích cực, kiên trì, kiến nghị, đề xuất, đã được Đảng và Nhà nước ban hành Nghị định giải quyết phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ chủ chốt của cơ sở, Bộ Tài chính ban hành thông tư 07 tạo điều kiện thuận lợi cho Hội thêm kinh phí hoạt động.. Đồng thời TW Hội cũng đã chủ động xây dựng ban hành Chiến lược phát triển của Hội tới năm 2010, tầm nhìn 2020 và phối hợp với các cơ quan chức năng chuẩn bị Dự án Luật hoạt động Chữ thập đỏ trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn.

- Công tác thi đua khen thưởng của Hội đã được chú trọng hơn thông qua việc ban hành những quy định, tổ chức đăng ký và chấm điểm thi đua, kiểm tra chéo, giao ban Cụm, đáp ứng nhanh nhạy việc khen thưởng, cổ vũ, động viên phong trào, nhất là những điển hình mới, nhân tố mới. Sáu năm qua, Hội đã khen thưởng hàng chục ngàn bằng khen, cờ xuất sắc, hàng trăm cán bộ, hội viên và tập thể được tặng thưởng Huân chương Lao động và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Điển hình là tại Đại hội thi đua yêu nước lần thứ II của Hội đã hội tụ những tập thể điển hình, cá nhân xuất sắc tiêu biểu trong 6 năm hoạt động, cống hiến: GS. TSKH. Nguyễn Văn Thưởng, Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (người anh hùng kế tiếp của GS. Anh hùng lao động Nguyễn Trọng Nhân - nguyên Chủ tịch Hội CTĐ Việt Nam).

2. Phong trào Thanh, thiếu niên, người tình nguyện Chữ thập đỏ có những chuyển biến tích cực

Với mục tiêu không ngừng bổ sung lực lượng thanh, thiếu niên tham gia công tác Hội, góp phần quan trọng trong việc giáo dục lòng nhân ái, lối sống nghĩa tình cho lớp trẻ, các cấp Hội đã phối hợp với Bộ Giáo dục - Đào tạo và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch phối hợp; đồng thời tập trung phát triển và nâng cao chất lượng lực lượng thanh, thiếu niên CTĐ trong trường học và lực lượng thanh niên Chữ thập đỏ xung kích (TNCTĐXK), người tình nguyện ở địa bàn dân cư. Nhiều hoạt động đã được triển khai giúp các em nhanh chóng có những kỹ năng hoạt động Hội.

Công tác TTN, người tình nguyện CTĐ còn được thể hiện rõ trong lĩnh vực hoạt động xã hội như: Phong trào tình nguyện đến với đồng bào dân tộc nghèo, hướng về nạn nhân da cam, đồng bào bị thiên tai bằng những việc làm cụ thể, thiết thực như: Tặng sổ tiết kiệm, xây nhà tình nghĩa, dạy học, khám, chữa bệnh miễn phí, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh. Từ những hoạt động bề nổi như quyên góp giúp đỡ theo vụ việc đơn thuần, đến nay TTNCTĐ tại hầu hết các trường học đã có những hình thức hoạt động thường xuyên như: Quỹ vì bạn nghèo, Nuôi lợn siêu trọng, kết bạn, bảo trợ học sinh nghèo… mỗi năm tạo ra hàng chục tỷ đồng, giúp đỡ kịp thời hàng vạn học sinh nghèo, tạo điều kiện và động viên nhiều học sinh nghèo vươn lên học giỏi.

Thông qua hình thức tập hợp và nội dung hoạt động nhân đạo của Hội đã góp phần tích cực giáo dục đạo đức, nếp sống, chất lượng học tập và lao động, sản xuất đối với lực lượng thanh, thiếu niên.

3. Công tác tuyên truyền của Hội được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, góp phần tuyên truyền có hiệu quả các hoạt động nhân đạo của Hội và toàn xã hội

Trong nhiệm kỳ qua, các cấp Hội đã dành sự quan tâm nhiều hơn đối với công tác tuyên truyền. Chủ động phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền cho hoạt động nhân đạo của Hội; chú trọng kiện toàn, nâng cao năng lực các cơ quan tuyên truyền của Hội nhằm mở rộng phạm vi tuyên truyền về Hội trong xã hội. Phát hành tờ tin, đặc san của Hội hàng quý, hàng tháng, với hình thức đẹp, nội dung phong phú phản ánh những hoạt động của Hội.

Nhiều hình thức, biện pháp tuyên truyền phong phú như: Mở các cuộc thi 60 mùa xuân CTĐ, chiếu phim, nói chuyện, triển lãm, cổ động, giao lưu, phát hành tờ rơi, áp phích, thi tiểu phẩm, vẽ tranh, kể chuyện, làm thơ…Các cấp Hội đã cùng các cơ quan thông tấn báo chí phản ảnh các hoạt động của Hội, cổ vũ, biểu dương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến của phong trào Hội tới hàng chục triệu lượt người nhằm nêu gương và vận động nhân dân hưởng ứng, tham gia các hoạt động nhân đạo của Hội.

4. Công tác đào tạo, huấn luyện của Hội đã có nhiều chuyển biến tích cực

          Trong nhiệm kỳ qua, bằng sự cố gắng nỗ lực, trên tinh thần phát huy nội lực là chính, các cấp Hội đã mở được hàng trăm ngàn lớp tập huấn cho nhiều đối tượng về Luật nhân đạo quốc tế, phong trào CTĐ - TLLĐ quốc tế, công tác chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa thảm họa, phương pháp truyền thông, công tác Thanh thiếu niên CTĐ, công tác kiểm tra, công tác tài chính, Quy chế đối ngoại của Hội…

Mô hình mới trong công tác đào tạo của các tỉnh là phối hợp với Trường chính trị tỉnh và các Trung tâm chính trị các quận, huyện để đưa công tác đào tạo cán bộ Hội các cấp trở thành kế hoạch thường xuyên hàng năm của các Trường. Đến nay đã có 22 tỉnh, thành có sự phối hợp này.

Bên cạnh việc đào tạo, huấn luyện, Hội đã chú trọng xây dựng tài liệu, giáo trình để nghiên cứu, giảng dạy và làm cơ sở để tổ chức triển khai tại Trung tâm đào tạo cán bộ CTĐ Trung ương. Hiện nay, Trường đã được Nhà nước cấp kinh phí và đang tiến hành xây dựng.

5. Công tác xây dựng và quản lý Quỹ Nhân đạo ngày càng được chú trọng với nhiều hình thức đa dạng, nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn hoạt động Hội

Trong tình hình mới, việc tăng cường nguồn tài chính nhằm tạo sự chủ động về tài chính cho những hoạt động thường xuyên của Hội trở thành một trong những mục tiêu hàng đầu trong Kế hoạch hoạt động của từng địa phương. Nhận thức được vấn đề này, các cấp Hội đã có những hoạt động cụ thể và thiết thực. Đến nay, 100% các tỉnh, thành Hội đều có Quỹ, hơn 90% số quận, huyện, thị đã xây dựng được Quỹ ít nhất từ 10 triệu đồng trở lên. Một số Hội có số Quỹ Nhân đạo lớn là: Hội CTĐ thị trấn chợ Vòm - An Giang (500 triệu đồng), Hội CTĐ thị trấn Yên Lập - Phú Thọ (240 triệu đồng), Hội CTĐ thị trấn Thạch Phú - Bến Tre (125 triệu đồng), Hội CTĐ xã Diên Hoà - Diên Khánh - Khánh Hoà (70 triệu đồng).

Các điển hình về công tác gây Quỹ là: Đà Nẵng, Đồng Nai, Bến Tre, Hải Phòng, Hà Nam, Hà Nội, Sóc Trăng, Tây Ninh, Thái Bình, Bình Định với các mô hình: “Hũ gạo tình thương”, “Sổ vàng nhân đạo”, “Thư xuân nhân đạo”, “Nuôi lợn siêu trọng”, “biểu diễn văn nghệ gây Quỹ”, vận động các tổ chức doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và cá nhân trong và ngoài nước đóng góp ủng hộ. Cùng với sự phát triển xây dựng Quỹ, các cấp Hội đều tăng cường công tác quản lý Quỹ: Chi tiêu đúng nguồn, đúng mục đích, không để thất thoát nên đã được Ngành tài chính đánh giá cao.

II. Toàn Hội hướng về cơ sở, bám sát địa bàn, sát đối tượng, tích cực đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, huy động mọi nguồn lực chăm lo đời sống, sức khỏe và niềm vui, hạnh phúc cho nhân dân

1. Phong trào tương thân tương ái ngày càng phát triển sâu rộng ở cơ sở với nhiều hình thức mới, mô hình mới, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, với hiệu quả thiết thực

- Phong trào "Hũ gạo tình thương" ở Quảng Nam đã được nhân rộng ra hầu hết các tỉnh miền Trung và Nam Bộ; phong trào “Mười người giúp một người”, “Liên gia làm công tác nhân đạo” ở Đức Trọng - Lâm Đồng đã được phát triển nhanh ra hầu khắp các tỉnh, thành Hội với nhiều hình thức mới như: “Nhiều người giúp một người”, “Nhà giúp nhà”, “Nhóm tự giúp”; phong trào “Vì bạn nghèo” của Thành phố Hồ Chí Minh; phong trào “Nuôi lợn đất siêu trọng”, “Đồng tiền lẻ đẻ tiền vàng” của TP. Hải Phòng; “Tặng sổ tiết kiệm”, “Lớp học tình thương”, “Mái ấm tình hồng” của Quảng Trị, Đà Nẵng, Cần Thơ, An Giang; “Ban bảo trợ Chữ thập đỏ” của TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương; “Hội chợ triển lãm” của Bình Định”. Thông qua phong trào đó, đến nay đã có trên 1,2 triệu người khó khăn, hoạn nạn được giúp đỡ với trên 100 tỷ đồng.

- Đặc biệt Phong trào “Tết vì người nghèo, vì nạn nhân chất độc da cam” đã trở thành hoạt động truyền thống của Hội trong nhiệm kỳ qua. Với quyết tâm gia đình nghèo nào cũng có Tết, toàn Hội đã chủ động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo mỗi khi Tết đến, Xuân về, với kết quả ngày càng cao, trên 257 tỷ đồng (điển hình là: năm 2005 đạt 51 tỷ đồng, năm 2006 đạt 64 tỷ đồng và Tết năm 2007 đạt gần 138 tỷ đồng), giúp đỡ trên 2.000.000 lượt hộ nghèo và nạn nhân chất độc da cam.

Có thể khẳng định: Phong trào tương thân, tương ái được phát huy mạnh mẽ, vừa đậm nét truyền thống, vừa đổi mới và phát triển với nội dung, hình thức mới, đã thu được kết quả to lớn, trên 12 triệu lượt người khó khăn được giúp đỡ, hàng chục ngàn học sinh nghèo được tới trường, hàng vạn người già không nơi nương tựa được sống trong tình yêu thương của đồng bào. Những hoạt động đó của Hội có tính tổ chức cao, sâu rộng, bền bỉ, đa dạng, phong phú và có sức lan tỏa nhanh, thể hiện tính nhân văn sâu sắc.

2. Chú trọng phát huy yếu tố nội lực và những hoạt động nhân đạo mang tính phát triển bền vững, nổi bật là:

          Các cấp Hội đã chú trọng và tăng cường tổ chức dạy nghề, tạo việc làm giúp người khuyết tật hoà nhập cộng đồng, hỗ trợ con giống, vật nuôi, vốn sản xuất, kinh doanh để các hộ khó khăn phát triển kinh tế… 6 năm qua, toàn Hội đã dạy nghề cho gần 40.000 đối tượng là người khuyết tật nghèo trị giá gần 10 tỷ đồng. Bên cạnh đó, nhiều chương trình, dự án đã được các cấp Hội triển khai đạt hiệu quả tốt như: Chương trình làm nhà Chữ thập đỏ (06 năm qua, toàn Hội đã xây dựng, sửa chữa, nâng cấp gần 20.000 ngôi nhà giúp các đối tượng khó khăn); Chương trình “Giáo dục vệ sinh và dinh dưỡng học đường” kéo dài suốt từ năm 2002 đến nay đã tuyên truyền nâng cao kiến thức vệ sinh và cấp khẩu phần ăn cho trên 60 ngàn học sinh ở 6 tỉnh miền núi, miền trung khó khăn với trị giá trên 120 tỷ đồng.

Để giúp đỡ đồng bào dân tộc nghèo, Trung ương (TW) Hội đã chỉ đạo các tỉnh, thành Hội: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu kết nghĩa với các tỉnh Tây Nguyên để giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ vật chất. Trong dịp Tết Nguyên Đán 2005, 16 tỉnh, thành Hội đã giúp đỡ các tỉnh khó khăn 2,3 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ các tỉnh Tây Nguyên gần 1,7 tỷ đồng.

Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam trực thuộc Hội CTĐ Việt Nam được thành lập và hoạt động có hiệu quả. Hội đã nỗ lực vận động sức người, sức của trong các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế được hàng trăm tỷ đồng, chăm lo cho hàng triệu nạn nhân (đặc biệt là những nạn nhân chưa được hưởng chế độ, chính sách). Riêng Quỹ của TW Hội đã huy động được hàng chục tỷ đồng, giúp đỡ được trên 330.000 nạn nhân thông qua các hoạt động: Phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng, cấp vốn sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm.

Cùng với hệ thống Quỹ Bảo trợ nạn nhân da cam, đã có nhiều Trung tâm (như: Trung tâm Hồng Đức của TW Hội, tổ hợp nhân đạo của Hà Nam, Bình Phước, Sóc Trăng, An Giang, Quảng Ninh..) và nhiều mô hình mới sáng tạo giúp đỡ nạn nhân da cam, trở thành những phong trào sâu rộng, thường xuyên trong cả nước.

Những hoạt động quan trọng đó của Hội đã tạo ra bước chuyển mới, mang đậm tính phát triển bền vững. Thông qua đó, một xu hướng cơ bản của hoạt động nhân đạo đã được định hình và phát triển mạnh mẽ. Các cấp Hội đã có tư duy, kiến thức, năng lực, cách tổ chức và phương pháp mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào trong tình hình hiện nay.

3. Các cấp Hội luôn chủ động và kịp thời làm tốt công tác phòng ngừa, ứng phó thảm họa, mang lại hiệu quả cao.

Công tác phòng ngừa, ứng phó thảm họa (PNUPTH) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hội. Vì thế Hội luôn kết hợp 3 khâu (Phòng ngừa, ứng phó và phục hồi sau thiên tai) với phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ). Đến nay, toàn Hội đã có hàng triệu lượt cán bộ, hội viên, tình nguyện viên, giáo viên và học sinh được tập huấn kiến thức PNUPTH để tự bảo vệ gia đình, bản thân và xã hội; 63 Trung tâm Phòng ngừa thảm họa và kho hàng cứu trợ, trạm ứng phó khẩn cấp đã được xây dựng ở những vùng trọng điểm để sẵn sàng ứng cứu tại chỗ kịp thời; 24.000 ha rừng ngập mặn ở ven biển đã góp phần cải thiện môi trường sinh thái, giúp người dân có việc làm và đặc biệt là phòng chống bão biển.

Trong nhiều năm qua ở đâu có rừng ngập mặn của Hội thì ở đó đê biển được giữ vững. Nhờ đó công tác cứu trợ của Hội luôn kịp thời và hiệu quả, góp phần bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân. Cùng với công an, bộ đội, Hội là một trong 3 lực lượng có mặt sớm nhất tại địa phương, địa bàn bị thiên tai để giúp dân. Điển hình là khi những đợt thiên tai, bão lụt lớn xảy ra, với phong trào “Tất cả vì đồng bào bị thiên tai”, cán bộ, hội viên và người tình nguyện đã có mặt tại những địa bàn xung yếu nhất để sơ tán đồng bào, cứu người bị nạn, cứu trợ lương thực, thực phẩm, thuốc men, đồ dùng thiết yếu tới tận tay người bị nạn, với tinh thần: “Tư tưởng thông suốt, hành động thông suốt, không vụ lợi, không ngại khó, không ích kỷ, không kêu ca và sẵn sàng phục vụ, sẵn sàng hy sinh”. Sau thiên tai, Hội còn quan tâm nhiều tới việc thực hiện các hoạt động phục hồi như: Dựng nhà, cấp vốn, giúp vật nuôi, cây trồng, tạo việc làm mới.. nhằm ổn định đời sống và sức khoẻ nhân dân.

          4. Công tác chăm sóc sức khoẻ được phát triển với nhiều hình thức mới, phục vụ ngày một tốt hơn nhu cầu thường xuyên, tại chỗ của nhân dân

          - Hoạt động CSSK ban đầu có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức cũng như mô hình hoạt động, lấy cải thiện sức khoẻ của những người dễ bị tổn thương theo hướng CSSK cộng đồng làm mục tiêu chính. Đến nay, 100% tỉnh, thành Hội đã tham gia tuyên truyền giáo dục sức khoẻ dựa vào màng lưới TNV, có hơn 200.000 TNV tham gia tuyên truyền cho hàng triệu lượt người mỗi năm. 79% số tỉnh có những hoạt động hỗ trợ người nghèo và gia đình chính sách, xây dựng được 45.000 giếng nước và 35.000 nhà vệ sinh. 84% số tỉnh đã vận động cộng đồng tham gia các hoạt động VSMT, dời chuồng gia súc xa nhà, vệ sinh chuồng trại, đường làng ngõ xóm.

- Hoạt động sơ cấp cứu dựa vào cộng đồng ngày càng phát triển theo chiều sâu và diện rộng. Đến nay, đã có 45 trong 64 tỉnh/thành tham gia các hoạt động sơ cấp cứu. Số trạm chốt, điểm sơ cấp cứu tăng từ 6500 (năm 2001) lên hơn 11.000 (năm 2007), trong đó có 1.684 trạm sơ cấp cứu phối hợp với trạm y tế. Số TNV SCC tăng từ hơn 100.000 người lên 300.000 người, 170.000 - 200.000 TNV/năm được đào tạo.

- Tuyên truyền vận động Hiến máu nhân đạo đã trở thành một phong trào rộng khắp trong cả nước. Đến nay, 100% tỉnh/thành Hội đã thành lập Ban chỉ đạo và tổ chức tốt vận động HMNĐ (nhiệm kỳ trước: chỉ có 18 tỉnh, thành); có sự chuyển đổi cơ cấu người hiến máu (nhiệm kỳ trước: người tình nguyện hiến máu: 14%; hiện nay: 53%). Toàn quốc có 10 người hiến 50 - 78 đơn vị máu và hàng ngàn người hiến máu trên 10 lần. Có nhiều mô hình hay được triển khai như: hiến máu nhiều lần, hiến máu dự bị, gia đình hiến máu...  Một số tỉnh đã đáp ứng được nhu cầu máu: Bà Rịa - Vũng Tàu, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận, Bình Định, Đà Nẵng, Khánh Hoà, TP. Hồ Chí Minh...  Hội nghị hiến máu nhân đạo toàn quốc lần 1 và 2 do Bộ Y tế và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, là những mốc quan trọng trong hoạt động này.

- Khám chữa bệnh nhân đạo đã trở thành một trong các hoạt động đặc thù và truyền thống của Hội. Những năm qua, Hội CTĐ VN đã ban hành Quy chế tổ chức hoạt động phòng khám chữa bệnh nhân đạo, nhờ đó tổ chức được nhiều nội dung và mô hình hoạt động KCB phong phú, được cộng đồng ủng hộ, hưởng ứng. Hiện nay, toàn quốc có 1.488 cơ sở KCB CTĐ, trong đó 559 cơ sở đạt chuẩn theo qui chế. Nhiệm kỳ qua, đã khám miễn phí cho hơn 240.000 lượt và phối hợp phẫu thuật chỉnh hình cho hơn 1.200 người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam. Khám cho hơn 15.000.000 lượt và cấp thuốc miễn phí cho 2.100.000 lượt bệnh nhân nghèo. Ngoài ra, Đoàn Thầy thuốc tình nguyện của TW Hội được thành lập và sau 2 năm hoạt động đã khám, cấp thuốc miễn phí cho trên 3.000 lượt đối tượng. Đoàn Thầy thuốc tình nguyện phía Nam ngoài khám trong nước còn giúp CTĐ Campuchia phẫu thuật mắt cho 423 người đục thuỷ tinh thể, cấp phát thuốc cho hơn 4.000 người với trị giá 1,2 tỷ đồng.

- Phòng chống HIV/AIDS là hoạt động tiêu biểu và có nhiều nét mới. Năm 2003, Hội đã xây dựng được chiến lược phòng chống HIV/AIDS. Với gần 10.000 TNV tại 47 tỉnh/thành Hội, trong nhiệm kỳ qua, đã đẩy mạnh các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS: tổ chức hàng ngàn lớp đào tạo cho cán bộ, hội viên, TNV; tiếp cận, tư vấn cho hơn 20.000 lượt người nhiễm... , tổ chức tết cho người nhiễm và trẻ em nhiễm HIV/AIDS; phát động các cuộc thi viết, vẽ tranh, thả diều, phát hành tuyển tập bài hát về HIV/AIDS; tổ chức các lễ mít tinh nhân ngày Thế giới phòng chống AIDS, các đêm ca nhạc tuyên truyền và vận động gây quỹ, chăm sóc, hỗ trợ và tạo việc làm cho người nhiễm.

- Phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm A (H5N1) là hoạt động thể hiện khả năng đáp ứng nhanh và hiệu quả của Hội trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh trong tình trạng khẩn cấp. Là Hội duy nhất tham gia Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm và cúm A (H5N1), Hội CTĐ VN đã tổ chức 10 lễ ra quân tại các tỉnh biên giới giáp Lào, Campuchia, Trung Quốc (có CTĐ nước bạn tham gia) và các tỉnh đang/có nguy cơ bùng phát dịch cao; xây dựng màng lưới hơn 2000 TNV tại 10 tỉnh/thành trọng điểm, tiến hành hiệu quả các hoạt động tuyên truyền cho người dân. Ngoài ra, nhiều tài liệu, đa dạng về chủng loại, phong phú, hấp dẫn được phân phối trên toàn quốc; 87.000 hộ gia đình đã được nhận xà phòng tiệt trùng...

          III. Tăng cường quan hệ hợp tác với các ngành, đoàn thể, tổ chức trong và ngoài nước là yếu tố tác động tích cực tới sự phát triển của Hội

          1. Nâng cao tính chủ động trong công tác phối hợp với các ban, bộ, ngành, đoàn thể để xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho hoạt động của Hội.

Phối hợp có hiệu quả với Tổng cục chính trị - Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ GD - ĐT và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, với Bộ Y tế về thực hiện Chiến lược Chăm sóc sức khỏe nhân dân; Ban hành Thông tư liên tịch với Bộ Tài chính - Bộ Y tế về công tác khám chữa bệnh và Hiến máu nhân đạo. Bộ Tài chính ban hành Thông tư 07 về công tác tài chính của Hội, Thông tư hướng dẫn quản lý tài chính các dự án, đáp ứng những quy định của Luật ngân sách và hoạt động của Hội trong tình hình mới.

2. Nắm bắt những yếu tố, điều kiện mới, phát huy tiềm năng sẵn có, mở rộng quan hệ hợp tác song phương, đa phương, tranh thủ sự giúp đỡ lẫn nhau và hội nhập Phong trào Quốc tếChữ thập đỏ - Trăng lưỡi liềm đỏ (TLLĐ), nâng cao vai trò và hình ảnh của Hội CTĐ Việt Nam

Trong sáu năm qua, sự chi viện, giúp đỡ của Phong trào CTĐ-TLLĐ và các tổ chức quốc tế đối với đồng bào ta thông qua các chương trình, dự án, trị giá trên 550 tỷ đồng; TW Hội đã tổ chức triển khai ở nhiều tỉnh, trong đó có 17 tỉnh khó khăn nhất, đã giúp đỡ hàng vạn lượt đồng bào vùng sâu, vùng xa, nạn nhân chiến tranh, người khuyết tật, đồng bào thiên tai ổn định đời sống, vươn lên hòa nhập cộng đồng. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đã tạo thêm những nguồn lực mới để tiếp sức, thúc đẩy sự phát triển phong trào CTĐ của Việt Nam.

Hội Chữ thập Việt Nam đã phát động và tổ chức nhiều hoạt động cứu trợ nhân đạo hỗ trợ một số Hội quốc gia đạt kết quả tốt, tiêu biểu là: Giúp đỡ 30.000 USD thuốc men cho Angiêri bị động đất; quyên góp 51 tỷ đồng hỗ trợ nạn nhân các nước Inđônêxia, Thái Lan, ấn Độ, Xrilanca bị thảm họa động đất, sóng thần; giúp 50.000 USD cho các gia đình nạn nhân của vụ khủng bố học sinh trường Becslan - Nga (năm 2004), ủng hộ 50.000 USD giúp đỡ các nạn nhân của cơn bão Katrina của Hoa Kỳ (trong đó có nhiều người Việt Nam) bị thiệt hại; trao trực tiếp hơn 1,4 triệu USD ủng hộ nạn nhân bị động đất, sóng thần tại Indonesia (thông qua Hội TLLĐ Indonesia).

          IV. Nhận định tổng quát, những hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

            1. Nhận định tổng quát

1.1 Tổ chức Hội 4 cấp được củng cố, kiện toàn; số lượng và chất lượng của tổ chức Hội và CB, HV, TTNCTĐ, TNV đã được nâng lên rõ rệt. Đội ngũ cán bộ các cấp Hội ngày càng thể hiện được vị trí, vai trò, trách nhiệm nòng cốt trong công tác nhân đạo xã hội. Đã xuất hiện nhiều mô hình mới, nhân tố mới, nhiều tấm gương CB, HV tận tụy, cống hiến vì lợi ích của những người nghèo khổ, đã cổ vũ, động viên, khích lệ các tầng lớp nhân dân noi theo, hội tụ, trở thành những phong trào nhân ái sâu rộng trong cả nước.

1.2 Hoạt động của Hội đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng: Hướng về cơ sở, bám sát thực tiễn, bằng nhiều nội dung, phương thức hoạt động đa dạng, phong phú đã huy động được sức mạnh nhân đạo của các cấp, các Ngành, các Đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia, giúp đỡ hàng triệu lượt người khó khăn, nghèo khổ ổn định đời sống, vươn lên hoà nhập cộng đồng. Kết quả hoạt động của Hội ngày càng cao, hiệu quả ngày càng thiết thực. Từ năm 2001 tới nay, Hội đã tuyên truyền vận động trong và ngoài nước được trên 3.000 tỷ đồng (vận động trong nước chiếm 80%) để góp phần chăm lo đời sống nhân dân, gấp 12 lần kinh phí Nhà nước đầu tư cho toàn Hội và vượt nhiệm kỳ VI 1.000 tỷ đồng, cao gấp 7 lần so với nhiệm kỳ V.

1.3 Từ những hoạt động nhân đạo thiết thực và hiệu quả của mình, Hội đã khẳng định rõ là một tổ chức xã hội của quần chúng, có khả năng đoàn kết, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, giáo dục phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc, thực hiện công bằng xã hội, góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, Hội thực sự trở thành cầu nối của Đảng, Nhà nước với nhân dân. Qua hoạt động thực tiễn, đã khẳng định rõ vai trò nòng cốt của Hội trong hoạt động nhân đạo của đất nước.

1.4 Hợp tác quốc tế của Hội ngày càng mở rộng và phát triển. Hội CTĐ Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng trong Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế, uy tín của Hội ngày càng được nâng cao. Sự hỗ trợ, giúp đỡ của bạn bè với Hội ngày càng hiệu quả. Qua hoạt động đối ngoại đã tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với các dân tộc, phục vụ có hiệu quả đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng và Nhà nước ta.

2. Những hạn chế

2.1 Việc quán triệt và triển khai những Chỉ thị của Đảng, Nhà nước và những chủ trương Nghị quyết của Hội ở một số cấp Hội chưa đồng bộ, chưa sâu rộng và chưa thường xuyên, liên tục. Hội CTĐ Việt Nam chưa có Luật hoặc Pháp lệnh như một số Hội quốc gia khác trên thế gíơi.

2.2 Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ của Hội ở nhiều nơi vừa thiếu, vừa chưa đủ sức đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới. Tổ chức của Hội, nhất là cấp cơ sở chưa phát triển đồng đều, chưa thực sự vững chắc. Cán bộ ở một số cấp Hội chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức phong trào. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết hoạt động thực tiễn và nhân điển hình chưa được chú trọng.

2.3 Nội dung, phương thức hoạt động của một số cấp Hội còn chậm đổi mới, kém hấp dẫn, thiếu hiệu quả, chưa thực sự gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Công tác tuyên truyền, huấn luyện, đào tạo, công tác TTNCTĐ và xây dựng Quỹ Hội còn nhiều hạn chế.

2.4 Sự phối hợp hoạt động của các Hội với một số Ban, Bộ, Ngành, Đoàn thể ở một số nơi chưa được thường xuyên, thiếu chặt chẽ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp.

 

3. Những bài học kinh nghiệm

Một là: Hoạt động của Hội phải quán triệt, vận dụng sáng tạo quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, xu hướng vận động và phát triển của Phong trào CTĐ - TLLĐ Quốc tế, tình hình kinh tế - xã hội của các địa phương, để đề ra các chủ trương, biện pháp phù hợp, làm cho hoạt động của Hội luôn gắn bó với đời sống nhân dân, đáp ứng kịp thời những nhu cầu thiết thân, bức xúc của quần chúng.

Hai là: Luôn đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội, hướng về cơ sở, bám sát hoạt động thực tiễn, thực hiện tốt việc công khai, dân chủ, minh bạch trong các hoạt động của Hội; đa dạng hóa, xã hội hóa các hoạt động nhân đạo đồng thời phải gắn liền với việc phát huy vai trò nòng cốt của Hội; chú trọng phát huy yếu tố nội lực và sự phát triển bền vững trong hoạt động nhân đạo. Đồng thời duy trì, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và tăng cường khả năng hội nhập của Hội với phong trào CTĐ - TLLĐ quốc tế.

Ba là: Thường xuyên quan tâm chăm lo việc củng cố, xây dựng và phát triển tổ chức Hội, đặc biệt là cấp cơ sở. Xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Hội. Chú trọng lựa chọn cán bộ được rèn luyện, thử thách trong phong trào và những người có nhiệt tình, tâm huyết, năng động, sáng tạo làm hạt nhân của phong trào. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm đáp ứng với yêu cầu trong sự nghiệp đổi mới; bố trí, sắp xếp cán bộ đảm bảo tính kế thừa và phát triển của phong trào trong điều kiện mới.

Bốn là: Cùng với những hoạt động truyền thống thường xuyên, từng thời điểm phải phát động những cao trào, những đợt hoạt động cao điểm nhằm tạo hiệu quả cao trong hoạt động nhân đạo và sắc thái của Hội, cũng như dấu ấn xã hội về hoạt động của Hội. Việc phát động phong trào phải chuẩn bị chu đáo về mọi mặt có mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, biện pháp tổ chức thực hiện thiết thực, tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, kết thúc phong trào có sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và biểu dương, khen thưởng kịp thời.

Năm là: Đổi mới phong cách lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Hội, làm việc khoa học, hiệu quả, dân chủ, có kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm. Đầu tư cho công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Chú trọng nhân rộng các điển hình tiên tiến, những cách làm năng động, sáng tạo, có hiệu quả. Kịp thời biểu dương, khen thưởng, tôn vinh những tập thể điển hình, những cá nhân xuất sắc trong hoạt động nhân đạo, tạo những động lực mới để thúc đẩy phong trào.

 

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ XÂY DỰNG HỘI VÀ PHONG TRÀO

CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2011

 

          I. Mục tiêu

Phát huy những thành quả đã đạt được, tăng cường giáo dục, tuyên truyền lòng nhân ái, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của Hội CTĐ. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia hoạt động nhân đạo, phát triển phong trào CTĐ sâu rộng trong cả nước; tích cực củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức Hội, tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, tạo được một bước phát triển mới, toàn diện, ổn định và vững chắc. Tích cực góp phần chăm lo thiết thực đời sống và sức khỏe nhân dân, đặc biệt quan tâm tới nạn nhân chiến tranh, nạn nhân thiên tai, người khuyết tật, đồng bào dân tộc nghèo. Thực hiện tốt vai trò nòng cốt của Hội trong hoạt đông nhân đạo, xác lập vững chắc vị trí của Hội CTĐ Việt Nam trong công cuộc đổi mới của đất nước, trong tình cảm và đời sống của nhân dân.

II. Các chương trình công tác của Hội

1. Tiếp tục tham mưu cho Đảng lãnh đạo công tác vận động nhân đạo; tham mưu cho Nhà nước xây dựng chính sách hoạt động chữ thập đỏ; phối hợp với các tổ chức và tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế

          1.1. Tham mưu cho Đảng tổng kết 20 năm thực hiện Chỉ thị 14 và ban hành văn bản mới của Đảng về tăng cường chỉ đạo công tác CTĐ trong tình hình mới.

1.2. Trình Quốc hội khóa XII ban hành Luật hoạt động chữ thập đỏ.

1.3. Phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể trong nước:

a. Mục tiêu: Mở rộng mặt trận nhân đạo trong nước thông qua các hoạt động thu hút sự tham gia của đông đảo các lực lượng xã hội vào các hoạt động của Hội.

b. Nhiệm vụ và giải pháp:

- Phối hợp với các bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức có liên quan triển khai các hoạt động nhân đạo.

- Xây dựng liên tịch với Ngành Y tế, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Giáo dục và Đào tạo, Quốc phòng.

1.4. Công tác đối ngoại:

a. Mục tiêu: Khẳng định hình ảnh Hội CTĐ Việt Nam là thành viên tích cực và là Hội quốc gia vững mạnh trong Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế.

b. Nhiệm vụ và giải pháp::

- Củng cố và phát triển các mối quan hệ hợp tác truyền thống với Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế, Uỷ ban Quốc tế CTĐ, các Hội Quốc gia.

- Mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các cơ quan đại diện ngoại giao, các cá nhân tiến bộ để tranh thủ mọi sự giúp đỡ nhằm thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển của Hội.

- Tăng cường cử cán bộ đi tham quan nước ngoài, tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế, các hoạt động trao đổi đoàn để học tập, chia sẻ kinh nghiệm.

- Phát triển, mở rộng các chương trình, dự án (đặc biệt là hợp tác song phương).

- Xây dựng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ ngoài nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm huy động sự đóng góp cho các hoạt động nhân đạo của Hội.

- Tích cực tuyên truyền giới thiệu các hoạt động của Hội với bạn bè quốc tế thông qua các hoạt động giao lưu và các cơ quan ngôn luận của Hội.

- Tổ chức kết nghĩa với Hội CTĐ/TLLĐ các nước nhằm tăng cường giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm, tạo điều kiện cho sự hội nhập của các cấp Hội.

2. Xây dựng Hội vững mạnh toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay

2.1. Công tác tổ chức

     a. Mục tiêu:

Tiếp tục phát triển tổ chức Hội đến hầu hết các cơ sở xã, phường, trường học, phát triển và nâng cao chất lượng cán bộ, hội viên, TTNCTĐ và TNV. Xây dựng các cấp Hội vững mạnh về tư tưởng, tổ chức và hành động đủ sức làm nòng cốt, phối hợp, liên kết các lực lượng và giữ vai trò định hướng trong mặt trận nhân đạo. Phát huy vai trò, vị trí của Hội trong công cuộc đổi mới đất nước.

     b. Nhiệm vụ và giải pháp:

     - Tập trung phát triển tổ chức Hội ở vùng sâu, vùng xa, trường học, khu vực kinh tế, thương mại.. Phấn đấu đến năm 2010 phát triển tổ chức Hội đến hầu khắp các cơ sở xã, phường, trường học trong cả nước. Mỗi cấp Hội cần tập trung chỉ đạo điểm việc phát triển tổ chức Hội trong các loại hình nêu trên để nghiên cứu, rút kinh nghiệm phục vụ cho công tác chỉ đạo. Việc phát triển tổ chức chú trọng chất lượng.

     - Đa dạng hóa các loại hình hoạt động theo nghề nghiệp, sở thích, địa bàn và đặc điểm hội viên. Tăng cường trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trong Hội và hoạt động CTĐ tại các chi Hội, tổ Hội ở các thôn ấp, bản làng với các hình thức, biện pháp linh hoạt, sáng tạo. Chú trọng các hình thức hoạt động trong gia đình, tạo dựng nhiều mô hình đáp ứng nhu cầu của cán bộ, hội viên, TTNCTĐ, TNV và nhân dân nhằm tăng cường khả năng thu hút, tập hợp nhân dân tham gia hoạt động nhân đạo. Việc phát triển tổ chức và các loại hình hoạt động phải đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Hội và sự quản lý Nhà nước để các loại hình trên hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích của Hội.

- Tập trung phát triển và nâng cao chất lượng lực lượng Hội. Cùng với việc phát triển hội viên hoạt động, chú trọng phát triển hội viên danh dự, hội viên tán trợ, cộng tác viên, đặc biệt đối với lực lượng tình nguyện viên. Động viên đông đảo cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động Hội. Quan tâm đúng mức những nhu cầu tinh thần, vật chất chính đáng để cổ vũ, động viên cán bộ, hội viên, thanh thiếu niên, tình nguyện viên nâng cao niềm vinh dự, tự hào và gắn bó với hoạt động của Hội.

- Các cơ quan chuyên trách của Hội tổ chức lại theo hướng của cơ quan làm công tác vận động quần chúng, đáp ứng cả về lượng và chất để nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, quản lý và điều hành; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giúp đỡ cấp dưới, nắm sát hơn hoạt động thực tiễn ở cơ sở.

- Chú trọng làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa công tác cán bộ Hội, hướng chính là lựa chọn cán bộ được rèn luyện, thử thách từ phong trào. ở mỗi cấp cần có tỷ lệ thích hợp giữa cán bộ chuyên môn và cán bộ làm công tác vận động quần chúng nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

- Cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua khen thưởng nhằm cổ vũ, động viên, khuyến khích kịp thời những tập thể điển hình, cá nhân xuất sắc trong phong trào Hội.

- Lồng ghép các mục tiêu trong hoạt động của Hội, với việc thực hiện các chương trình, dự án tài trợ để tuyên truyền, phát triển, củng cố tổ chức, nâng cao vai trò, vị trí của Hội.

- Tiếp tục tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước có chủ trương, biện pháp cụ thể để giải quyết về đầu mối quản lý, biên chế cán bộ và những điều kiện hoạt động cho Hội, tạo những cơ sở pháp lý ổn định và điều kiện hoạt động cho Hội.

     2.2. Công tác thanh, thiếu niên CTĐ

a. Mục tiêu: Phát triển mạng lưới TTNCTĐ trong và ngoài trường học, tăng cường năng lực, đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao hiệu quả các hoạt động nhân đạo phục vụ xã hội và giáo dục thanh, thiếu niên.

     b. Nhiệm vụ và giải pháp:

     - Phát triển lực lượng TTNCTĐ, chú trọng phát triển các đội TNCTĐXK trong hoạt động nhân đạo tại trường học và địa bàn dân cư, vùng sâu, vùng xa.

     - Nâng cao chất lượng và nhân rộng các mô hình điểm trong hoạt động của TTNCTĐ.

- Kết hợp với các Bộ, Ngành (Bộ GD-ĐT, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) xây dựng kế hoạch để phối hợp hoạt động TTNCTĐ.

- Phát triển Đội TNCTĐXK ở các cấp Hội. Phấn đấu đến năm 2010 mỗi Hội cơ sở xã, phường có ít nhất 1 đội TNCTĐXK, làm nhiệm vụ nòng cốt trong các hoạt động của Hội.

- Đào tạo, huấn luyện cán bộ, TTN các cấp nhất là các kỹ năng hoạt động nhằm tạo dựng đội ngũ nòng cốt trong hoạt động TTNCTĐ ở các cấp Hội.

- Chú trọng việc biểu dương, cổ vũ, khen thưởng lực lượng TTNCTĐ có thành tích xuất sắc trong hoạt động.

- Mở rộng các hình thức hoạt động giao lưu, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm trong nước và quốc tế cho TTNCTĐ thông qua các hoạt động như: Hội nghị trao đổi thông tin, Trại hè.

          2.3. Công tác tuyên truyền:

     a. Mục tiêu: Nâng cao hiệu quả truyền thông trong việc truyền bá hình ảnh Hội CTĐ Việt Nam, Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế và thu hút sự tham gia của các tầng lớp xã hội vào các hoạt động nhân đạo do Hội CTĐ Việt Nam tổ chức.

     b. Nhiệm vụ và giải pháp:

- Phát huy thế mạnh các cơ quan tuyên truyền ở các cấp Hội; đồng thời phát triển, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng làm công tác truyền thông ở các cấp Hội đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu hoạt động của Hội.

- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp Hội đối với công tác truyền thông, trước mắt TW Hội có Chiến lược truyền thông và xây dựng cơ chế chỉ đạo phối hợp hoạt động hợp lý, khai thác các nguồn để đầu tư cho công tác truyền thông đáp ứng được yêu cầu mới.

- Củng cố, tăng cường, tạo điều kiện, đầu tư trang thiết bị, kinh phí cho bộ máy làm công tác truyền thông của các cấp Hội; Trước mắt củng cố Tạp chí Nhân đạo, Báo Nhân đạo và Đời sống, Truyền hình Nhân đạo, Trang tin điện tử và sự phối hợp giữa các ban, đơn vị Trung ương Hội trong công tác truyền thông.

     - Liên kết, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông đại chúng để có chuyên mục tuyên truyền về Hội; đồng thời đẩy mạnh việc tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác tuyên truyền và phát triển mạng lưới tuyên truyền viên ở cộng đồng.

     - Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền và mở rộng trao đổi thông tin hợp tác với các Hội quốc gia, Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế, ủy ban Quốc tế CTĐ trong công tác truyền thông.

     2.4. Công tác đào tạo - huấn luyện:

a. Mục tiêu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng, phương pháp hoạt động cho hệ thống cán bộ Hội CTĐ các cấp theo hướng vừa kết hợp những kinh nghiệm hay của Hội với những kiến thức mới trong xu thế phát triển hội nhập của Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế.

b. Nhiệm vụ và giải pháp:

- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ CTĐ có đủ năng lực chuyên môn làm công tác Hội.

- Đưa nội dung đào tạo, huấn luyện công tác Hội vào các Trung tâm chính trị, các trường đoàn thể và các cơ sở đào tạo khác.

- Xây dựng kế hoạch chiến lược về công tác đào tạo, huấn luyện theo từng giai đoạn ở các cấp Hội và biên soạn tài liệu, các chương trình khung để huấn luyện, đào tạo cán bộ các cấp Hội một cách chủ động, tích cực. Tăng cường đào tạo nguồn, đào tạo trước khi bổ nhiệm.

- Xây dựng lực lượng cán bộ nghiên cứu, giảng viên, tập huấn viên, tuyên truyền viên có đủ về số lượng và chất lượng.

- Đầu tư xây dựng cơ sở, trang thiết bị, phương tiện cho công tác đào tạo, huấn luyện theo hướng từng bước hiện đại. Xây dựng Trường đào tạo cán bộ CTĐ TW của Hội.

- Phối hợp với các cơ quan, các Viện nghiên cứu để triển khai nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động nhân đạo và Hội CTĐ Việt Nam và mở rộng quan hệ hợp tác với Uỷ ban Quốc tế CTĐ, Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế, các Hội quốc gia về công tác đào tạo theo những nội dung và hình thức linh hoạt, thích hợp.

2.5. Xây dựng Quỹ Hội và nguồn tài chính của Hội nhằm đảm bảo cho Hội hoạt động:

a. Mục tiêu: Chủ động tạo nguồn và quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, đúng pháp luật, từng bước xây dựng được nguồn tài chính chủ động nhằm phục vụ cho các hoạt động của Hội.

b. Nhiệm vụ và giải pháp:

- Huy động mạnh mẽ nguồn quỹ từ nội lực và mở rộng các hình thức gây quỹ phục vụ cho các hoạt động của Hội.

- Tăng cường công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương và chủ động đề xuất lồng ghép các hoạt động của Hội với các chương trình, dự án quốc gia.

- Các cấp Hội chủ động xây dựng quỹ bằng các chương trình, dự án, đặc biệt là các dự án nhỏ để dễ kêu gọi sự tài trợ của cá tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

- Tăng cường vận động để thu hút sự tham gia rộng rãi và hiệu quả của các cá nhân, tổ chức vào các lĩnh vực hoạt động của Hội, đặc biệt quan tâm đến đối tượng là doanh nghiệp, tổ chức quốc tế...

- Đẩy mạnh khai thác cơ sở vật chất sẵn có, tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ để gây quỹ trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Nhà nước và nguyên tắc của Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế.

- Tăng cường quản lý quỹ theo đúng quy định của Nhà nước, của Hội và sự thỏa thuận của các nhà tài trợ. Chọn thứ tự ưu tiên trong vận động và sử dụng quỹ. Tiếp tục xây dựng các quy chế về quản lý tài chính cho phù hợp với đặc thù của Hội CTĐ trong tình hình mới.

3. Tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, toàn Hội nỗ lực phấn đấu góp phần chăm lo thiết thực đời sống và sức khỏe của những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

3.1. Công tác xã hội:

          a. Mục tiêu: Góp phần cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của những người bị tổn thương, đặc biệt ưu tiên giúp đỡ nạn nhân chiến tranh, nạn nhân thiên tai, người khuyết tật nghèo để họ vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng.

b. Nhiệm vụ và giải pháp:

          - Duy trì và phát huy hiệu quả phong trào tương thân, tương ái đã trở thành truyền thống của Hội, đặc biệt đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ mang tính phát triển bền vững, giúp người bị tổn thương, nạn nhân chất độc da cam tự vươn lên, hoà nhập cộng đồng: Đào tạo nghề, hỗ trợ vốn, cấp học bổng, tìm việc làm, đặc biệt ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng trọng điểm thiên tai.

          - Nâng cao năng lực cán bộ CTĐ các cấp về Phương pháp công tác xã hội dựa vào cộng đồng.

          - Chú trọng nghiên cứu, tổng kết và nhân rộng các mô hình công tác xã hội có hiệu quả tại cộng đồng như: “Hũ gạo tình thương”, “Liên gia đình làm công tác nhân đạo”, đồng thời xây dựng các dự án khả thi, thiết thực giúp đỡ đối tượng khó khăn phát triển bền vững nhằm tranh thủ sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

          3.2. Phòng ngừa và ứng phó thảm họa

a. Mục tiêu: Tăng cường năng lực PNUPTH cho các cấp Hội, duy trì và triển khai các chương trình mang tính bền vững, góp phần chủ động giảm thiểu thiệt hại do thảm họa gây ra đối với nhân dân.

b. Nhiệm vụ và giải pháp:

- Chủ động phòng ngừa thảm họa và cứu trợ kịp thời nạn nhân thảm họa, đặc biệt là trong các tình huống khẩn cấp.

          - Nâng cao năng lực cán bộ các cấp Hội và nâng cao nhận thức cho cộng đồng về công tác phòng ngừa thảm họa.

          -Tăng cường cơ sở vật chất PNUPTH cho các cấp Hội, củng cố các Trạm ứng phó khẩn cấp và duy trì phát triển rừng ngập mặn.

          - Đẩy mạnh hoạt động cứu trợ phục hồi mang tính phát triển sau thảm họa.

          3.3. Chăm sóc sức khỏe:

a. Mục tiêu: Cải thiện sức khỏe của những người dễ bị tổn thương theo hướng chăm sóc sức khỏe cộng đồng để phục vụ được nhiều đối tượng khó khăn với chất lượng cao hơn.

          b. Nhiệm vụ và giải pháp:

- Hướng dẫn, giáo dục cộng đồng phòng chống bệnh; Hỗ trợ cộng đồng cải thiện điều kiện vệ sinh.

- Xây dựng, củng cố Ban chỉ đạo vận động hiến máu nhân đạo (HMNĐ) các cấp; sớm đề nghị với Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo hiến máu quốc gia, phát triển mạng lưới tuyên truyền viên HMNĐ; Thống nhất chính sách cho người hiến máu tự nguyện và tôn vinh người hiến máu; phát triển các điểm tư vấn, hiến máu cố định, lưu động và hoạt động của Trung tâm HMNĐ tỉnh, thành phố; Xây dựng lực lượng đăng ký hiến máu dự bị để sẵn sàng cung cấp khi có tai nạn hoặc thảm họa lớn.

- Đa dạng hóa các loại hình khám chữa bệnh nhân đạo, chú trọng phát triển mô hình khám chữa bệnh lưu động giúp đồng bào nghèo, vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế.

- Phát triển chương trình chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ việc làm cho người nhiễm HIV/AIDS, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng; nâng cao nhận thức của cộng đồng giảm kỳ thị, phân biện đối xử đối với người nhiễm.

- Phát triển tổ chức, nâng cao năng lực CB, HV, TTNCTĐ, mạng lưới TNV chăm sóc sức khỏe ở các cấp Hội, đặc biệt là cấp cơ sở.

- Đẩy mạnh các hoạt động sơ cấp cứu tại cộng đồng, đặc biệt là trong tình huống khẩn cấp; Củng cố, phát triển hệ thống trạm, chốt sơ cấp cứu CTĐ ở những nơi thường xảy ra tai nạn; Tăng cường trang thiết bị các trạm, chốt sơ cấp cứu, phòng khám nhân đạo, tiến tới xây dựng thí điểm Bệnh viện CTĐ.

- Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức trong và ngoài nước để tăng nguồn lực triển khai hoạt động chăm sóc sức khỏe có hiệu quả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ tư

LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ VÀ LUẬT HOẠT ĐỘNG

CHỮ THẬP ĐỎ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ

 

 

1) Giới thiệu tổng quan

          Luật Nhân đạo quốc tế là tập hợp những quy tắc pháp lý được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhằm giảm thiểu những đau khổ và thiệt hại cho con người trong chiến tranh; cụ thể là để bảo vệ những người không tham chiến hoặc không còn khả năng tham chiến cũng như để hạn chế việc sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh.

2) Luật Nhân đạo quốc tế bao gồm:

          Luật Nhân đạo quốc tế được cấu thành chủ yếu từ bốn Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 và 03 Nghị định thư bổ sung, đó là:

          - Công ước Geneva I : Về cải thiện tình cảnh của những người bị thương và bị bệnh thuộc các lực lượng vũ trang trên chiến trường

          - Công ước Geneva II : về việc cải thiện tình cảnh của những người bị thương và bị bệnh thuộc các lực lượng vũ trang trên biển

          - Công ước Geneva III : về việc đối xử với tù binh

          - Công ước Geneva IV : về việc bảo hộ thường dân trong thời kỳ chiến tranh

          - Nghị định thư (I) bổ sung các công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế

          - Nghị định thư (II) bổ sung các công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế

          - Nghị định thư (III) bổ sung các công ước Geneva về bảo vệ Biểu tượng

3) Nội dung chủ yếu của Luật Nhân đạo quốc tế

          Mục đích chính của Luật Nhân đạo quốc tế là bảo vệ những người ngoài vòng chiến đấu, đó là người bị thương, bị bệnh, những người làm nhiệm vụ cứu thương trên chiến trường, dân thường và hạn chế việc sử dụng những phương pháp, phương tiện chiến tranh, tập trung vào các hoạt động chính sau:

          - Những người nằm ngoài và những người bị loại khỏi vòng chiến phải được tôn trọng về sinh mạng, được bảo đảm toàn vẹn về than thể và tinh thần. Trong mọi trường hợp, các đối tượng trên phải được bảo hộ và đối xử nhân đạo không có bất cứ sự phân biệt nào.

          - Nghiêm cấm việc giết hoặc làm bị thương đối phương khi họ đã quy hang hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

          - Người bị thương hoặc bị ốm phải được thu gom lại và chăm sóc boiử bên đối phương đang cầm giữ họ. Các nhân viên y tế, các trạm và phương tiện vận chuyển và trang thiết bị y tế phải được tôn trọng vào bảo vệ. Biểu tượng Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ trên nền trắng là dấu hiệu bảo hộ những người và vật dụng nói trên nên phải được tôn trọng.

          - Tù binh và dân thương bị phía đối phương bắt giữ phải được tôn trọng về sinh mạng, phẩm giá, các quyền tự do và tư tưởng cá nhân, chính trị, tín ngưỡng và tập tục tôn giáo. Cấm sử dụng các hành động bạo lực hoặc trả đũa đối với họ. Họ được bảo đảm quyền liên lạc với gia đình và tiếp nhận sự cứu trợ.

          - Mỗi người đều có quyền hưởng các bảo đảm luật pháp chủ yếu. Không ai phải chịu trách nhiệm về những việc mà họ không vi phạm. Không được tra tấn về thể chất và tinh thần, dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo hoặc làm mất nhân phẩm đối với họ.

          - Các bên tham chiến và thành viên các lực lượng vũ trang phải tuân thủ việc hạn chế sử dụng các biện pháp và phương tiện chiến tranh. Nghiêm cấm việc sử dụng các loại vũ khí hoặc phương tiện chiến tranh gây ra những tác hại không cần thiết hoặc quá đau đớn.

          - Các bên tham chiến phải luôn luôn phân biệt rõ dân thường và tài sản của họ. Đại bộ phận nhân dân cũng như mỗi con người đều không thể bị coi là mục tiêu để tấn công. Chỉ được tấn công vào các mục tiêu quân sự.

          5) Trách nhiệm thi hành

5.1 Ủy ban quốc tế Chữ thập đỏ:

          Ủy ban quốc tế Chữ thập đỏ là thành viên sáng lập của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Với cương vị là người đề xướng và bảo trợ Luật Nhân đạo quốc tế, Ủy ban nỗ lực bảo vệ và cứu trợ các nạn nhân trong các cuộc xung đột có vũ trang, nội chiến và trong những hoàn cảnh đất nước bị bạo loạn. Nhiệm vụ chính của Ủy ban trong lĩnh vực này là:

          - Giám sát việc thực hiện: bảo vệ nạn nhân chiến tranh, phổ biến và tuyên truyền Luật rộng rãi. Điều này đã được đề cập trong Điều lệ của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế Ủy ban quốc tế Chữ thập đỏ . hoạt động sao cho sự hiểu biết và sự phổ biến kiến thức về Luật Nhân đạo quốc tế được áp dụng vào các cuộc xung đột vũ trang, và chuẩn bị bất cứ sự phát triển nào nảy sinh từ các cuộc xung đột đó (Điều 5, đoạn 2g);

          - Duy trì quan hệ chặt chẽ với các Hội quốc gia và Phát triển Luật về những vấn đề các bên cùng quan tâm, ví dụ : phối hợp chuẩn bị hành động khi xảy ra xung đột vũ trang ; tôn trọng, phát triển và phê chuẩn các Công ước Geneva và phổ biến những nguyên tắc chủ yếu của các Công ước Geneva cũng như của Luật Nhân đạo quốc tế (Điều 5, đoạn 4a).

 

5.2 Chính phủ các nước tham gia các Công ước Geneva năm 1949 và Nghị định thư bổ sung:

          Chỉ các quốc gia mới có thể tham gia các Hiệp ước quốc tế, do đó chỉ các quốc gia mới được tham gia ký kết các Công ước Geneva và các Nghị định thư bổ sung. Các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý phổ biến rộng rãi kiến thức về các Công ước và các Nghị định thư : “Các Bên tham gia Công ước cam kết phổ biến nội dung các Công ước này càng rộng rãi càng tốt trong đất nước của mình cả trong thời bình và thời chiến ; và trong chừng mực có thể, nên đưa nội dung Công ước vào các chương trình huấn luyện quân sự và đưa vào chương trình giáo dục dân sự, làm sao cho những nguyên tắc của Công ước được thong suốt trong toàn thể nhân dân, đặc biệt là trong các lực lượng chiến đấu, trong các nhân viên y tế và trong các giáo sỹ (Trích dẫn Điều 47, 48 và 144 của các Công ước Geneva I, II, III và IV).

          Tính đến 31/7/2007, đã có 194 quốc gia đã tham gia ký kết các Công ước Geneva năm 1949. Như vậy, các Công ước này đã thuộc số các Công ước có số nước phê chuẩn đông nhất và được công nhận mang tính chất quốc tế. Đối với các Nghị định thư bổ sung, tính đến cùng thời điểm, đã có 167 quốc gia tham gia Nghị định thư I, 163 quốc gia tham gia Nghị định thư II và 19 quốc gia tham gia Nghị định thư III.

          Các quốc gia có nghĩa vụ tuyên truyền các quy tắc của Luật Nhân đạo quốc tế cho các lực lượng vũ trang và toàn thể công chúng. Các quốc gia phải nội luật hóa những quy tắc này.

          Các Công ước Geneva và Nghị định thư bổ sung nêu ra các Biểu tượng hiện nay của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế : Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ và Pha lê đỏ. Trong đó, bao gồm nhiều điều khoản về Biểu tượng. Một số điều khoản nêu cụ thể cách thức sử dụng, kích cỡ, mục đích và nơi đặt biểu tượng, đối tượng và tài sản được sử dụng biểu tượng, phải tôn trọng biểu tượng ra sao và biện pháp trừng phạt đối với sự lạm dụng biểu tượng như thế nào. Luật Nhân đạo quốc tế cũng chỉ rõ rằng các Bên tham gia các Công ước Geneva đều phải cam kết áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn và trừng phạt việc lạm dụng biểu tượng cả trong thời chiến và thời bình và phải ban hành các quy định về việc tôn trọng biểu tượng. Đó cũng chính là lý do cần có 01 Chương mục riêng quy định về Biểu tượng trong Luật các hoạt động Chữ thập đỏ.

5.3 Các Hội quốc gia:

          Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là sự kết hợp của các tổ chức: Ủy ban quốc tế Chữ thập đỏ, Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia và Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

          Hội quốc gia chịu trách nhiệm phối hợp tuyên truyền phổ biến Luật Nhân đạo rộng rãi trong các lực lượng có vũ trang , chính quyền và người dân. Đồng thời Hội quốc gia đóng vai trò hỗ trợ Chính phủ trong việc thực thi Luật Nhân đạo quốc tế và bảo vệ biểu tượng.

6) Việt Nam thực thi Luật Nhân đạo quốc tế

          Ngày 5/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã gửi công hàm cho Chủ tịch Liên bang Thụy sỹ thông báo Việt Nam chính thức gia nhập 04 Công ước Geneva năm 1949. Trong công hàm cũng nêu rõ 1 số điểm ngoại trừ mà Việt Nam chưa đồng ý tham gia, đó là: Những điều ngoại trừ của N­ước Việt Nam dân chủ Cộng hoà về 4 công ư­ớc Giơnevơ ngày 12-8-1949 về việc bảo hộ các nạn nhân chiến tranh:

          - Trong Công ­ước Geneva I, đối với điều thứ 10: Khi n­ước giữ th­ương binh, bệnh binh thuộc lực l­ượng vũ trang chiến đấu trên bộ yêu cầu, hoặc một n­ước trung lập, hoặc một tổ chức có đủ bảo đảm để làm nhiệm vụ một cách vô tư­ và có hiệu quả, đảm nhiệm những công vụ do công ­ước giao phó cho những nư­ớc Bảo hộ, thì yêu cầu đó chỉ đ­ược n­ước Việt Nam DCCH coi là hợp pháp nếu yêu cầu đó đư­ợc nư­ớc mà các thư­ơng binh, bệnh binh, bệnh binh ấy trực thuộc chấp thuận.

          - Trong Công ­ước Geneva II, đối với điều thứ 10: Khi n­ước giữ th­ương binh, bệnh binh và những ngư­ời bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân yêu cầu hoặc hoặc một nư­ớc trung lập, hoặc một tổ chức có đủ bảo đảm để làm nhiệm vụ một cách vô tư­ và có hiệu quả, đảm nhiệm những công vụ do công ước giao phó cho những nư­ớc bảo hộ, thì yêu cầu đó chỉ đ­ược n­ước VNDCCH coi là hợp pháp nếu yêu cầu đó đư­ợc nư­ớc mà các thư­ơng binh, bệnh binh và những ngư­ời đắm tầu thuộc các lực l­ượng hải quân ấy trực thuộc chấp thuận.

          - Trong Công ­ước Geneva III, đối với điều 10: Khi n­ước giữ tù binh yêu cầu, hoặc một nư­ớc trung lập ,hoặc một tổ chức có đủ bảo đảm để làm nhiệm vụ một cách vô tư­ và có hiệu quả ,đảm nhiệm những công vụ do công ư­ớc giao phó cho những nước bảo hộ, thì yêu cầu đó chỉ đ­ược nư­ớc VNDCCH coi là hợp pháp , nếu yêu cầu đó đ­ược nước mà các tù binh ấy trực thuộc chấp thuận.

          Đối với điều thứ 12: N­ước VNDCCH tuyên bố rằng việc n­ước giữ tù binh, giao tù binh cho một nước tham gia công ư­ớc này, không làm cho nư­ớc giữ tù binh hết trách nhiệm trong việc áp dụng những điều khoản cuả công ­ước đối với các tù binh đó.

          Đối với điều thứ 85: N­ước VNDCCH tuyên bố rằng: Những tù binh bị truy tố và bị kết án về những trọng tội chiến tranh hay về những trọng tội phi nhân đạo theo những nguyên tắc do toà án quốc tế Nu răm be đề ra, không đ­ược hư­ởng những điều khoản của công ước này như­ điều 85 đã nói.

          - Trong Công ­ước Geneva IV, đối với điều thứ 11: Khi nư­ớc giữ những thư­ờng dân nói trong công ­ước này yêu cầu, hoặc một nư­ớc trung lập, hoặc một tổ chức có đủ bảo đảm để làm nhiệm vụ một cách vô tư­ và có hiệu quả, đảm nhiệm những công vụ do công ­ước giao phó cho những n­ước bảo hộ, thì yêu cầu đó chỉ đ­ược nư­ớc VNDCCH coi là hợp pháp, nếu yêu cầu đó đ­ựơc nư­ớc mà những thường dân trực thuộc chấp thuận.

 

          Hệ thống văn kiện này đã và đang có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo hộ các nạn nhân trong các cuộc chiến tranh và xung đột có vũ trang xảy ra ở khắp các khu vực trên thế giới từ cuối thế kỷ XIX đến nay. Thực tiễn hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mà đặc biệt là hai cuộc trường kỳ kháng chiến và chiến thắng hai đế quốc (Pháp và Mỹ), Việt Nam đã thực hiện nghiêm các chính sách nhân đạo và khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời coi đó là một vấn đề thuộc bản chất cách mạng, và sức mạnh chiến thắng của chúng ta. Việc thực thi và tuân thủ cũng như bảo đảm hiệu lực các điều ước quốc tế này đã được khẳng định một phần trong pháp luật Việt Nam như đã được nêu trong Bộ Luật hình sự năm 1999 của Việt Nam, đó là: Điều 336 (vi phạm các chính sách đối với người bị thương hoặc người chết do chiến tranh), điều 340 (ngược đãi tù binh chiến tranh và/hoặc kẻ địch đảo ngũ) , điều 342 (các tội ác chống nhân loại), điều 343 (bảo vệ dân thường, tù binh, người bị thương).

          Tính đến nay, Việt nam đã là thành viên của gần 20 công ước, nghị định thư về luật nhân đạo quốc tế. Tiếp đó năm 1981, Việt Nam đã ký và phê chuẩn Nghị định thư bổ sung I năm1977 về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang mang tính quốc tế. Hiện nay, Chính phủ Việt Nam và các bộ, ngành có liên quan đang nghiên cứu xem xét về việc Việt nam gia nhập Nghị định thư bổ sung II năm 1977 về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang không mang tính quốc tế và Nghị định thư bổ sung III năm 2005 về Biểu tượng Chữ thập đỏ.

          7) Hội Chữ thập đỏ Việt Nam - Thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế:

          Là thành viên chính thức của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế từ năm 1957, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam là một tổ chức xã hội nhân đạo. Hội Chữ thập đỏ trong hơn 60 năm thành lập, hoạt động và phát triển, đã có nhiều đóng góp to lớn cho hoạt động nhân đạo của đất nước. Trong những năm chiến tranh, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Quốc tế Chữ thập đỏ và các thành viên trong Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế hoạt động trong các lĩnh vực thăm hỏi và trao trả tù binh chiến tranh, cứu trợ cho dân thường, những người ly tán bởi chiến tranh, người tỵ nạn (cứu trợ người tỵ nạn Campuchia, phối hợp với các Hội quốc gia tiếp nhận người di tản Việt nam trở về,…). Hiện nay, Hội chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động Thương binh và xã hội nhằm tuyên truyền, phổ biến Luật trong lực lượng vũ trang, giúp đỡ và trợ giúp các nạn nhân chiến tranh, những người dễ bị tổn thương tại cộng đồng. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan thực hiện tuyên truyền Luật Nhân đạo quốc tế, đào tạo các tập huấn viên giỏi để tạo tăng cường các hoạt động phổ biến Luật trong hệ thống Hội các cấp và trong xã hội.

 

 

NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ

 

1) Thế nào là Luật Nhân đạo Quốc tế?

Luật Nhân đạo Quốc tế là một phần chủ yếu của Công pháp quốc tế và bao gồm những quy tắc mà trong thời chiến, đều nhằm bảo vệ những người ngoài vòng chiến đấu hoặc đã bị loại khỏi cuộc xung đột, đồng thời nhằm hạn chế những phương pháp và phương tiện sử dụng trong chiến tranh.

Nói một cách chính xác hơn, đối với Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (UBCTĐQT), Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng đối với các cuộc xung độ vũ trang có ý nghĩa như một Hiệp ước quốc tế hoặc những điều luật tập quán nhằm giải quyết các vấn đề nhân đạo trực tiếp nảy sinh từ các cuộc xung đột vũ trang dù có mang tính chất quốc tế hay không. Ví những lý do nhân đạo, các quy tắc của Luật Nhân đạo sẽ hạn chế quyền tự do sử dụng các phương pháp và phương tiện chiến tranh của các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ người và tài sản bị ảnh hưởng hoặc có thể bị ảnh hưởng do cuộc xung đột.

Cụm từ "Luật Nhân đạo Quốc tế", "Luật Xung đột vũ trang", "Luật Chiến tranh" có thể được coi là có ý nghĩa tương đương. Các tổ chức quốc tế, các trường đại học, thậm chí các quốc gia thường chuộng dùng cụm từ Luật Nhân đạo Quốc tế (hoặc Luật Nhân đạo), trong khi các lực lượng vũ trang thích dùng hai cụm từ sau.

Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế: là xung đột giữa lực lượng quân đội của ít nhất là hai quốc gia (Chiến tranh giải phóng dân tộc được xếp vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế).

Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế: là xung đột xảy ra trong phạm vi một quốc gia, giữa một bên là quân đội chính quy với bên kia là những phe nhóm xác định và có trang bị vũ trang, hoặc xung đột giữa các phe nhóm có trang bị vũ trang với nhau.

Xáo trộn nội bộ: là trong một nước xảy ra những rối loạn nghiêm trọng về trật tự xã hội, gây nên bởi các hành vi bạo lực không mang tính chất của xung đột vũ trang (ví dụ: bạo loạn, xung đột giữa các phe phái hoặc hành vi bạo lực chống đối chính quyền).

2) Những quy tắc chủ yếu của Luật Nhân đạo Quốc tế là gì?

Là những quy phạm luật chủ yếu mà UBCTĐQT đã tóm tắt từ những nét chính của Luật Nhân đạo Quốc tế. Do vậy không có hiệu lực của một văn bản pháp lý và cũng không được đem thay thế các văn bản pháp lý khác đang có hiệu lực, chỉ nhằm tạo điều kiện cho việc phổ biến Luật Nhân đạo quốc tế mà thôi.

Nội dung của các quy tắc:

- Những người nằm ngoài và những người bị loại khỏi vòng chiến phải được tôn trọng về sinh mạng, được đảm bảo toàn vẹn về thân thể và tinh thần. Trong mọi trường hợp, các đối tượng trên phải được bảo hộ và đối xử nhân đạo không có bất kỳ sự phân biệt nào.

- Nghiêm cấm việc giế hoặc làm bị thương đối phương khi họ đã quy hàng hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến đấu.

- Người bị thương hoặc bị ốm phải được thu gom lại và chăm sóc bởi bên đối phương đang cầm giữ họ. Các nhân viên y tế, các trạm và phương tiện vận chuyển và trang thiết bị y tế phải được tôn trọng và bảo vệ. Biểu tượng CTĐ và TLLĐ trên nền trắng là dấu hiệu bảo hộ những người và vật dụng nói trên nên phải được tôn trọng.

- Tù binh và dân thường bị phía đối phương bắt giữ phải được tôn trọng về sinh mạng, phẩm giá, các quyền tự do và tư tưởng cá nhân, chính trị, tín ngưỡng và tập tục tôn giáo. Cấm sử dụng các hành động bạo lực hoặc trả đũa đối với họ. Họ được bảo đảm quyền liên lạc với gia đình và tiếp nhận sự cứu trợ.

- Mỗi người đều có quyền hưởng các bảo đảm luật pháp chủ yếu. Không ai phải chịu trách nhiệm về những việc mà họ không vi phạm. Không được tra tấn về thể chất và tinh thần, dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo hoặc làm mất nhân phẩm đối với họ.

- Các bên tham chiến và thành viên các lực lượng vũ trang phải tuân thủ việc hạn chế sử dụng các biện pháp và phương tiện chiến tranh gây ra những tác hại không cần thiết hoặc quá đau đớn.

- Các bên tham chiến phải luôn luôn phân biệt rõ dân thường và tài sản của họ. Đại bộ phận nhân dân cũng như mỗi con người đều không thể bị coi là mục tiêu để tấn công. Chỉ được tấn công vào các mục tiêu quân sự.

Nguồn gốc của Luật Nhân đạo Quốc tế là gì?

Trước khi có Luật Nhân đạo ngày nay, có luật nào chi phối xung đột vũ trang hay không? Thực tế đã có các quy tắc bất thành văn hình thành trên cơ sở những tập quán chi phối các cuộc xung đột vũ trang. Sau đó, có nhiều hiệp ước song phương (trao trả tù binh) tuy được soạn thảo ở những mức độ chi tiết khác nhau nhưng có hiệu lực. Đôi khi các ban tham chiến lại phê chuẩn các hiệp ước khi chiến tranh đã kết thúc. Ngoài ra còn có các điều lệnh mà các nước đã ban hành cho binh lính của mình. Như vậy, luật áp dụng cho xung đột vũ trang được giới hạn cả về thời gian và không gian trong đó luật nói trên chỉ có giá trị đối với một trận chiến hoặc một trận xung đột. Các quy tắc cũng thay đổi tùy theo thời gian, địa điểm, đạo lý và nền văn minh.

Ai là những người khởi xướng Luật Nhân đạo ngày nay? Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo là hai ông Hăng-ri Đuy-năng (Henry Dunant) và tướng Guy-lôm Hăng-ri Đuy-phua (Guillaume-Henri Dufour). Hăng-ri Đuy-năng đã khởi xướng ý tưởng đó trong cuốn sách "Kỷ niệm Son-phe-ri-nô" (Solferino) xuất bản năm 1862. Còn tướng Hăng-ri Đuy-phua, dựa trên kinh nghiệm chiến tranh dày dạn của mình đã nhiệt tình ủng hộ bằng việc ông đồng chủ tọa Hội nghị ngoại giao năm 1864.

Đuy-năng viết: "Trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ như khi thủ lĩnh quân sự thuộc các quốc gia tụ họp (…), đây là dịp họ có thể lợi dụng hình thức hội nghị để xây dựng một số nguyên tắc quốc tế chuẩn y trong khuôn khổ một Công ước và không được phép vi phạm), những nguyên tắc này, một khi đã được các bên phê chuẩn, có thể sẽ hình thành cơ sở để các bên cứu trợ những người bị thương ở các quốc gia châu Âu".

Tướng Hăng-ri Đuy-phua viết (cho Hăng-ri Đuy-năng): "Qua những ví dụ sinh động như những ví dụ được minh họa trong bản báo cáo của ngài, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề: Có vinh quang nào trên chiến trường sinh ra do tra tấn và nước mắt".

Ý tưởng đã trở thành hiện thực như thế nào? Chính phủ Thụy Sĩ, với sự thuyết phục của 5 thành viên sáng lập UBCTĐQT, đã triệu tập Hội nghị Ngoại giao năm 1864 với sự tham dự của 16 nước; Hội nghị đã thông qua Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện tình trạng thương binh trên chiến trường.

Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864 đã đặt nền móng cho Luật Nhân đạo ngày nay và có những đặc trưng chủ yếu sau:

- Là những quy tắc thành văn và hiện hành, có tầm chi phối toàn cầu nhằm bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột.

- Mang tính chất đa phương, để ngỏ cho mọi quốc gia tham gia.

- Quy định nghĩa vụ chăm sóc thương bệnh binh mà không phân biệt đối xử.

- Tôn trọng các nhân viên, các phương tiện vận chuyển và thiết bị y tế có mang biểu tượng (Chữ thập đỏ trên nền trắng).

Luật Nhân đạo Quốc tế được hình thành trên cơ sở nào?

Khởi đầu từ Công ước Giơ-ne-vơ lần thứ nhất năm 1864, Luật Nhân đạo ngày nay đã phát triển qua nhiều thời kỳ, mà tất cả thường là sau những biến cố mà hết sức cần thiết phải có luật để đáp ứng các nhu cầu cao chưa từng có về cứu trợ nhân đạo cho nạn nhân của sự phát triển các loại vũ khí và các kiểu xung đột mới. Dưới đây là những Hiệp định cơ bản được liệt kê theo trình tự thời gian thông qua:

- Năm 1864 Công ước Giơ-ne-vơ về cải thiện điều kiện các thương binh trên chiến trường.

- Năm 1868 Tuyên bố Xanh Pê-téc-bua (cấm sử dụng một số loại vũ khí tên lửa trong chiến tranh).

- Năm 1899 Công ước La-hay tôn trọng các đạo luật và những tập quán liên quan đến chiến tranh và vận dụng những nguyên tắc của Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864 cho chiến tranh trên biển.

- Năm 1906 Kiểm điểm và phát triển Công ước Giơ-ne-vơ 1864.

- Năm 1907 Kiểm điểm lại và phát triển Công ước La-hay năm 1899 và thông qua các Công ước mới.

- Năm 1925 Nghị định thư Giơ-ne-vơ về việc cấm sử dụng chất gây ngạt, chất độc hoặc các loại khí độc hại hoặc sử dụng vũ khí vi trùng trong chiến tranh.

- Năm 1929 Hai Công ước Giơ-ne-vơ:

+ Kiểm điểm và phát triển các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1906.

+ Công ước Giơ-ne-vơ liên quan tới việc đối xử với tù binh chiến tranh (mới).

- Năm 1949, 4 Công ước Giơ-ne-vơ:

Công ước I: Cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ.

Công ước II: Cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và những người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển.

Công ước III: Đối xử với tù binh chiến tranh.

Công ước IV: Bảo vệ thường dân trong thời gian chiến tranh (mới).

- Năm 1954 Công ước La-hay bảo vệ tài sản văn hóa khi xảy ra xung đột vũ trang.

- Năm 1972 Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ các loại vũ khí vi trùng (sinh học) và vũ khí độc hại cũng như về sự hủy diệt của các loại vũ khí đó.

- Năm 1977 Hai nghị định thư bổ sung cho bốn Công ước Giơ-ne-vơ. Hai Nghị định thư này củng cố việc bảo hộ các nạn nhân của xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế (Nghị định thư 1) và trong xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế (Nghị định thư II).

- Năm 1980 Công ước về cấm hoặc hạn chế việc sử dụng một số loại vũ khí công ước là những loại vũ khí có thể gây nên số thương vong quá mức hoặc có thể gây ra những hậu quả không lường hết được bao gồm:

+ Nghị định thư I về những mảnh vỡ không phát hiện được.

+ Nghị định thư II về cấm hoặc hạn chế sử dụng mìn, bẫy chông hoặc các loại vũ khí khác.

+ Nghị định thư III về việc cấm hoặc hạn chế sử dụng những vũ khí gây cháy.

- Năm 1993 Công ước về cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ và sử dụng các loại vũ khí hóa học và về sự hủy diệt của chúng.

- Năm 1995 Nghị định thư liên quan tới các loại vũ khí la-de gây mù mắt (Nghị định thư IV mới đối với Công ước 1980).

- Năm 1996 Nghị định thư về cấm hoặc hạn chế sử dụng mìn, bẫy chông và các loại vũ khí khác (Nghị định thư II được sửa đổi đối với Công ước năm 1980).

- Năm 1997 Công ước về cấm sử dụng, tàng trữ, sản xuất và chuyển giao các loại mìn sát thương cá nhân và về sự hủy diệt của chúng.

Nguồn gốc của các Công ước năm 1949?

Năm 1874, một Hội nghị ngoại giao đã được triệu tập tại Brúc-xen theo sáng kiến của Sa hoàng A-léc-xăng-đơ Đệ nhị. Hội nghị đã thông qua bản Tuyên ngôn quốc tế về các đạo luật và tập quán về chiến tranh. Tuy nhiên văn kiện đó không được phê chuẩn vì một số quốc gia ngần ngại chưa muốn chịu sự ràng buộc của đạo luật. Mặc dầu vậy, dự thảo Brúc-xen đã đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong việc pháp điển hóa các đạo luật về chiến tranh.

Năm 1934, Hội nghị quốc tế CTĐ lần thứ 15 đã họp tại Tô-ky-ô và thông qua văn kiện "Công ước Quốc tế về những điều kiện và việc bảo hộ thường dân mang quốc tịch của quốc gia đối địch đang sinh sống trên lãnh thổ thuộc/hoặc bị chiếm đóng bởi quốc gia đối địch" do UBCTĐQT dự thảo. Văn kiện cũng không nhận được sự ủng hộ tích cực, các chính phủ vẫn từ chối việc triệu tập một Hội nghị ngoại giao để quyết định thông qua. Kết quả là, Dự thảo Tô-ky-ô đã không được áp dụng trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ hai nên đã không ngăn chặn được hậu quả tàn khốc của chiến tranh mà tất cả chúng ta đều đã biết.

Nguồn gốc các Nghị định thư năm 1977?

Các Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hình thành Luật Nhân đạo. Tuy nhiên, sau quá trình phi thực dân hóa, các quốc gia mới thành lập thấy khó có thể chấp nhận việc bị ràng bược bởi những đạo luật mà bản thân họ không được tham gia chuẩn bị. Hơn thế nữa, những quy tắc ứng xử khi xảy ra xung đột cũng không tiến triển kể từ Công ước La-hay năm 1907. Tuy nhiên, do việc sửa đổi các Công ước Giơ-ne-vơ có thể tạo nên những thách thức cho một số sự tiến bộ đạt được năm 1949 nên đã dẫn tới quyết định thông qua hai văn kiện mới dưới hình thức Nghị định thư bổ sung cho các Công ước Giơ-ne-vơ nhằm củng cố việc bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang.

Những chủ thể nào chịu sự ràng buộc của các Công ước Giơ-ne-vơ?

Chỉ các quốc gia mới có thể tham gia các Hiệp ước quốc tế, do đó, chỉ các quốc gia mới được tham gia ký kết các Công ước Giơ-ne-vơ và các Nghị định thư bổ sung. Tính đến giữa năm 2003, hầu hết các quốc gia trên thế giới, chính xác là 191 nước đã ký kết các Công ước Giơ-ne-vơ. Như vậy, các Công ước này đã thuộc số các Công ước có số nước phê chuẩn đông nhất và được công nhận mang tính chất quốc tế. Đối với hai Nghị định thư bổ sung, tính đến đầu năm 1998, thì có 150 nước tham gia Nghị định thư I và 142 nước tham gia Nghị định thư II.

 

 

 

 

Ai có nghĩa vụ phổ biến kiến thức về các Công ước và Nghị định thư?

Các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý phổ biến rộng rãi kiến thức về các Công ước và Nghị định thư:

Các bên tham gia Công ước cam kết phổ biến nội dung các Công ướ này càng rộng rãi càng tốt trong đất nước của mình cả trong thời bình và thời chiến và trong chừng mực có thể, nên đưa nội dung Công ước vào các chương trình huấn luyện quân sự và đưa vào các chương trình giáo dục dân sự, làm sao cho những nguyên tắc của Công ước được thông suốt trong toàn thể nhân dân, đặc biệt là trong các lực lượng vũ trang chiến đấu, trong các nhân viên y tế và trong các giáo sĩ. (Điều 47, 48, 127 và 144 của các Công ước Giơ-ne-vơ I, II, III và IV theo thứ tự).

Các bên tham gia Nghị định thư cam kết phổ biến nội dung các Công ước và Nghị định thư này trong đất nước của mình càng rộng rãi càng tốt cả trong thời bình cũng như trong thời chiến, đặc biệt là đưa nội dung Công ước và Nghị định thư này vào các chương trình huấn luyện quân sự và khuyến khích người dân hiểu biết về các Công ước và Nghị định thư, làm sao để nội dung của các Công ước và Nghị định thư đó được các lực lượng vũ trang và toàn thể nhân dân thông suốt. (Điều 83, Nghị định thư I).

"Nghị định thư này cần được phổ biến càng rộng rãi càng tốt". (Điều 19, Nghị định thư II).

UBCTĐQT và nhiệm vụ phổ biến rộng rãi Luật Nhân đạo?

Theo Điều lệ của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế, một trong các nhiệm vụ của UBCTĐQT là:

(…) hoạt động sao cho sự hiểu biết và sự phổ biến kiến thức về Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng vào các cuộc xung đột vũ trang và chuẩn bị bất cứ sự phát triển nào nảy sinh từ các cuộc xung đột đó. (Điều 5, đoạn 2g).

(…) Duy trì quan hệ chặt chẽ với các Hội quốc gia (…) về những vấn đề các bên cùng quan tâm, ví dụ: phối hợp chuẩn bị hành động khi xảy ra xung đột vũ trang; tôn trọng, phát triển và phê chuẩn các Công ước Giơ-ne-vơ; và phổ biến những nguyên tắc chủ yếu của các Công ước Giơ-ne-vơ cũng như của Luật Nhân đạo Quốc tế. (Điều 5, đoạn 4a).

Thế nào là luật hạn chế sử dụng vũ lực (Jus ad bellum) và Luật thời chiến (Jus in bello)?

Mục đích của Luật Nhân đạo Quốc tế là hạn chế những đau khổ do chiến tranh gây ra thông qua việc bảo hộ và giúp đỡ các nạn nhân theo khả năng cao nhất của mình. Bởi vậy, luật nêu lên thực trạng của xung đột mà không quan tâm tới lý do hoặc tính chất pháp lý của việc sử dụng vũ lực. Luật chỉ quy định các yếu tố liên quan đến vấn đề nhân đạo trong cuộc xung đột. Đó chính là luật thời chiến (Jus in bello). Các điều khoản của đạo luật này được áp dụng cho các bên tham chiến mà không quan tâm tới lý do của cuộc xung đột cũng như nguyên nhân đúng/sai của bất cứ bên nào.

Trong những cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế, thường rất khó xác định quốc gia nào vi phạm Hiến chương của Liên Hợp Quốc. Việc áp dụng Luật Nhân đạo Quốc tế không bao gồm sự lên án bên nào phạm tội vì điều đó dễ làm nổ ra tranh luận dẫn tới việc làm tê liệt việc thực thi đạo luật này, vì bên nào cũng tự nhận mình là nạn nhân của sự xâm lược. Hơn thế nữa, Luật Nhân đạo vốn chỉ nhằm bảo vệ nạn nhân chiến tranh và những quyền cơ bản của họ, mà không phân biệt họ thuộc bên tham chiến nào. Điều đó giải thích tại sao luật thời chiến (jus in bello) lại độc lập với luật về sử dụng vũ lực hay còn gọi là luật phòng ngừa trong chiến tranh (tiếng La tinh là: jus ad bellum hay jus contra bellum).

Về ngăn ngừa chiến tranh:

Mãi tới khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, việc sử dụng vũ lực vẫn được coi là hành động bất hợp pháp nhưng được thừa nhận để giải quyết những bất đồng. Điều lệ của Hội Quốc liên năm 1919 và Hiệp định Pa-ri (Hiệp ước Briand-Kellogg) năm 1928 đều nhằm ngăn ngừa chiến tranh. Việc thông qua Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945 đã khẳng định khuynh hướng: "Trong mối bang giao quốc tế, không cho phép các thành viên của Liên Hợp Quốc sử dụng những biện pháp đe dọa hoặc sử dụng vũ lực (…)".

Tuy nhiên, khi một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia bị một quốc gia hoặc một nhóm các quốc gia khác tấn công thì Hiến chương cho phép được sử dụng quyền phản ứng tự vệ cá nhân hoặc tập thể. Theo quy định tại Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hội đồng Bảo an cũng có thể quyết định việc sử dụng vũ lực tập thể. Điều này bao gồm:

- Sử dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các quốc gia đang đe dọa an ninh quốc tế nhằm mục đích khôi phục nền hòa bình.

- Sử dụng các biện pháp gìn giữ hòa bình thông qua các hình thức: cử quan sát viên hay các lực lượng gìn giữ hòa bình.

Một trường hợp khác được nêu trong khuôn khổ quyền tự quyết của các dân tộc; trong nghị quyết số 2105 (khóa XX) thông qua năm 1965, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã "công nhận tính chất chính đáng của cuộc đấu tranh chống ách đô hộ thực dân đòi thực hiện quyền tự quyết và độc lập của các dân tộc (…)".

Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng trong những hoàn cảnh nào?

Luật dành cho những đối tượng nào và nhằm bảo vệ ai?

Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng trong hai trường hợp. Nói như vậy có nghĩa là luật áp dụng hai hình thức bảo vệ sau đây:

A- Xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế

Khi xảy ra xung đột vũ trang có tính chất quốc tế, bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung I sẽ được áp dụng. Luật Nhân đạo nhằm chủ yếu vào các bên tham chiến, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người nằm ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, ví dụ:

- Binh sĩ bị ốm hoặc bị thương trên chiến trường; và các nhân viên y tế phục vụ trong các lực lượng vũ trang.

- Binh sĩ bị ốm, bị thương hoặc bị đắm tàu thuộc lực lượng hải quân; và các nhân viên y tế phục vụ trong ác lực lượng hải quân.

- Tù binh chiến tranh

- Dân thường, ví dụ:

- Người nước ngoài sống trên lãnh thổ các bên tham gia xung đột, kể cả người tỵ nạn.

- Thường dân sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng.

- Thường dân bị bắt giữ hoặc bị cầm tù.

- Các nhân viên y tế, tôn giáo hoặc phòng hộ dân sự.

- Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, như quy định tại điều 1 của Nghị định thư bổ sung I, được liệt vào dạng xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế.

B- Xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế

Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế sẽ áp dụng điều 3 chung của bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư bổ sung II. Cần lưu ý rằng những điều kiện áp dụng của Nghị định thư II chặt chẽ hơn nhiều so với những điều kiện quy định ở điều 3. Trong tình hình đó, Luật Nhân đạo nhằm vào các lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu mà không phân biệt chính quy hay không chính quy, đồng thời bảo vệ từng con người hoặc từng nhóm người đứng ngoài vòng chiến hoặc đã bị loại khỏi vòng chiến, ví dụ:

- Thương binh hoặc bệnh binh

- Những người bị tước quyền tự do hậu quả của cuộc xung đột.

- Dân thường

- Các nhân viên y tế và tôn giáo.

          Luật Nhân đạo với xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế

Điều 3 chung cho cả 4 Công ước được xem như một Hiệp ước thu nhỏ. Những đạo luật về nội chiến, mặc dù đã được đề cập trong một số điều khoản của Nghị định thư II, vẫn không đầy đủ như những quy tắc đối với xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế. Đứng trước nguyên tắc chủ quyền của quốc gia, thường rất khó củng cố hệ thống bảo vệ trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế. Những quy tắc nêu trong Điều 3 được xem như là luật tập quán và biểu thị mức tiêu chuẩn tối thiểu mà các bên tham chiến phải tôn trọng.

Luật nào được áp dụng trong trường hợp xảy ra nội chiến hoặc bạo động trong phạm vi một nước? Luật Nhân đạo Quốc tế không áp dụng vào bối cảnh tình hình mà ở đó bạo lực không biến thành xung đột vũ trang. Những trường hợp như vậy sẽ được hướng dẫn bằng các điều khoản của luật về quyền con người cũng như viện dẫn luật pháp của quốc gia.

Luật Nhân đạo có áp dụng đối với những cuộc xung đột "mới" không?

Ngày nay người ta nói rất nhiều về những cuộc xung đột "mới. Thuật ngữ này nhằm miêu tả hai dạng xung đột: xung đột kiểu "tự phát" và xung đột "sắc tộc". Các thuật ngữ này chỉ có ý nghĩa tương đối.

Xung đột tự phát: hậu quả tất yếu nảy sinh từ sâu Chiến tranh lạnh. Dạng xung đột này thường biểu hiện bằng sự suy yếu từng phần hoặc đôi khi tan rã hoàn toàn cơ cấu nhà nước. Trong bối cảnh đó, một số phe nhóm có vũ trang đã lợi dụng khoảng trống chính trị hòng cướp chính quyền. Tuy nhiên, dạng xung đột này, trước hết, thường gây nên sự suy yếu hoặc tan rã của hệ thống chỉ huy chính ngay trong nội bộ các phe nhóm có vũ trang đó.

Xung đột sắc tộc: là kiểu xung đột nhằm loại bỏ kẻ thù bằng thủ đoạn gọi là "huỷ diệt dân tộc". Đặc tính của thủ đoạn này là nhằm cưỡng chế di cư hoặc thậm chí tàn sát hủy diệt dân chúng. Chịu ảnh hưởng của những cuộc tuyên truyền dồn dập, của bạo lực và của sự hận thù, kiểu xung đột này thường tạo nên một động lực kích động tinh thần của phe nhóm gây bất lợi cho bản sắc dân tộc hiện hành, qua đó loại trừ hẳn khả năng cùng chung sống hòa bình với những phe nhóm khác.

Luật Nhân đạo Quốc tế hiện vẫn áp dụng đối với xung đột kiểu "tự phát" và "xung đột sắc tộc", bởi vì các cuộc xung đột đó đã lôi cuốn dân thường vào các hoạt động bạo lực. Điều 3 chung yêu cầu tất cả các phe nhóm có trang bị vũ trang, dù họ có tham gia hoạt động nổi loạn hay không phải tôn trọng những người đã buông vũ khí và những người đứng ngoài vòng chiến.

Kết cục là không phải vì cơ cấu của một quốc gia bị suy yếu hoặc không tồn tại tạo ra khoảng trống pháp lý đối với luật pháp quốc tế. Trái lại, rõ ràng là trong những bối cảnh tình hình như trên mà Luật Nhân đạo đã trở thành có hiệu lực.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng: rất khó áp dụng Luật Nhân đạo đối với những kiểu xung đột nêu trên. Việc thiếu tính kỷ luật giữa những bên tham chiến, việc trang bị vũ khí cho thường dân tràn lan khắp lãnh thổ và việc ngày càng thiếu sự phân biệt rõ ràng giữa lính chiến và dân thường v.v...  vẫn gây nên những cuộc đụng độ dẫn tới hậu quả tàn khốc mà hầu như ở đó khó có cơ hội để vận dụng Luật Nhân đạo.

Kết quả là trong những bối cảnh tình hình đã nêu trên, cần phát huy mọi nỗ lực để phổ biến Luật Nhân đạo thật rộng rãi. Dẫu rằng, kiến thức tốt hơn về các quy tắc chiến tranh có thể chưa giải quyết được những vấn đề nổi cộm là nguyên nhân làm nảy sinh xung đột nhưng nó có khả năng làm giảm bớt hậu quả thảm khốc do các cuộc xung đột gây ra.

Điều 3 chung: Một Hiệp định thu nhỏ.

Trong trường hợp xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế xảy ra trên lãnh thổ của một bên ký kết thì mỗi bên tham gia xung đột phải chịu sự ràng buộc pháp lý tối thiểu của những điều khoản dưới đây:

          1. Những người nằm ngoài vòng chiến, bao gồm cả những người đã hạ vũ khí và những người đã bị loại ra khỏi vòng chiến do bị ốm, bị thương, bị giam giữ hoặc do bất kỳ nguyên nhân nào khác thì trong mọi trường hợp sẽ được đối xử nhân đạo mà không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, tôn giáo hay tín ngưỡng, giới tính, quốc tịch, giàu nghèo hoặc bất cứ một tiêu chuẩn nào khác. Để đạt được mục đích này, các hành vi dưới đây đối với những đối tượng kể trên bị nghiêm cấm bất cứ lúc nào và ở đâu:

a.   Xâm phạm đến tính mạng và thân thể, đặc biệt là giết hại bằng mọi hình thức, làm cho bị tàn phế, đối xử thô bạo, tra tấn và dùng nhục hình.

b.   Bắt làm con tin.

c.    Xúc phạm đến nhân phẩm, nhất là hình thức đối xử hạ nhục làm mất phẩm giá của con người.

d.   Tuyên án và hành quyết mà không có sự xét xử của một tòa án được thành lập theo thông lệ nhằm bảo đảm tính chất xét xử pháp lý thiết yếu mà loài người văn minh đã công nhận.

          2. Những người bị thương và bị bệnh cần phải được thu gom và chăm sóc. Một cơ quan nhân đạo và vô tư, chẳng hạn như UBCTĐQT, có thể tự đề nghị được giúp đỡ các bên trong cuộc xung đột. Các bên xung đột, qua những cách thức thỏa thuận đặc biệt, cần tỏ ra cố gắng hơn để thực hiện toàn bộ hay một số điều khoản của Công ước này. Việc áp dụng những điều khoản trên đây sẽ không gây ảnh hưởng gì đến tính chất pháp lý của các bên trong cuộc xung đột.

          Quá trình hình thành Luật Nhân đạo ra sao? Và Luật có những phát triển gì mới nhất?

Được coi là khởi xướng Luật Nhân đạo ngày nay (ví dụ: Công ước Giơ-ne-vơ năm 1864), UBCTĐQT cố gắng đảm bảo giá trị pháp lý của ngành Công pháp quốc tế này. Do đó, UBCTĐQT đóng vai trò:

- Giám sát sự thay đổi của tính chất các cuộc xung đột vũ trang.

- Tổ chức các cuộc tư vấn để xác định khả năng đạt được thỏa thuận về những quy tắc mới.

- Chuẩn bị dự thảo các văn kiện để trình lên các Hội nghị ngoại giao.

Sự kiện về hai Nghị định thư bổ sung đã đưa đến ý tưởng về sự hình thành của Luật Nhân đạo: từ lúc sơ thảo đến lúc được thông qua.

Trên cơ sở dự thảo những quy tắc được chuẩn bị từ năm 1956 và sau là những nghị quyết được Hội nghị Chữ thập đỏ quốc tế và Hội nghị nhân quyền quốc tế họp tại Tê-hê-ran thông qua năm 1958, UBCTĐQT nghiên cứu khả năng bổ sung các Công ước Giơ-ne-vơ thông qua năm 1949.

Năm 1969, UBCTĐQT trình ý tưởng nói trên lên Hội nghị Chữ thập đỏ lần thứ 21 họp tại It-stăng-bun: đại biểu các nước thành viên các Công ước Giơ-ne-vơ đã ủy thác ý tưởng đó một cách phù hợp cho UBCTĐQT và các luật gia của UBCTĐQT lập tức bắt tay vào công việc trù bị.

Vào giữa năm 1971 và 1974, UBCTĐQT đã tổ chức nhiều cuộc tư vấn với các chính phủ và Phong trào, đồng thời thường xuyên gửi báo cáo tiến độ thực hiện tới Liên Hợp quốc.

Năm 1973, Hội nghị Chữ thập đỏ quốc tế lần thứ 22 đã họp tại Tê-hê-ran. Hội nghị đã xem xét văn kiện các dự thảo trên và bày tỏ ý kiến ủng hộ hoàn toàn.

Tháng 2/1974, chính phủ Thụy Sĩ, với tư cách là nước nộp lưu chiểu các Công ước Giơ-ne-vơ 1949, đã triệu tập tại Giơ-ne-vơ Hội nghị ngoại giao về việc khẳng định và phát triển Luật Nhân đạo Quốc tế áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang. Hội nghị đã họp bốn phiên và kết thúc vào 6/1977.

Tại phiên họp toàn thể cuối cùng của Hội nghị, 102 đại biểu đại diện cho các quốc gia tham dự đã thông qua 102 điều của Nghị định thư I và 28 điều của Nghị định thư.

     II. Một số phát triển gần đây nhất

Được thông qua tại Hội nghị ngoại giao họp tại Viên tháng 10/1995, Nghị định thư liên quan tới những vũ khí la-de gây mù mắt đã cấm việc sử dụng và chuyển giao các loại vũ khí la-de vì chúng có tính năng gây mù mắt vĩnh viễn nếu sử dụng vào cuộc chiến. Nghị định thư cũng yêu cầu các quốc gia áp dụng những biện pháp phòng ngừa thích hợp, kể cả việc huấn luyện trong các lực lượng vũ trang, nhằm tránh gây mù mắt vĩnh viễn do sử dụng bừa bãi các hệ thống la-de khác.

Đối với trường hợp mìn, thông qua việc bổ sung văn kiện Nghị định thư về cấm và hạn chế sử dụng mìn, bẫy chông và các loại vũ khí khác, phạm vi áp dụng của Nghị định thư II đối với Công ước năm 1980 (xem trang 11) đã được mở rộng và sửa đổi tại Giơ-ne-vơ vào 3/1976. Hơn thế nữa, Công ước về cấm sử dụng, tàng trữ, sản xuất và chuyển giao mìn sát thương cá nhân và về sự hủy diệt của mìn đã được 121 nước ký tại Ôt-ta-wa (3-4/12/1997).

Những thỏa thuận của Luật Nhân đạo Quốc tế về các quy tắc áp dụng cho vấn đề bảo vệ môi trường được ghi trong điều 55 của Nghị định thư bổ sung I và trong Công ước ngày 10/12/1976 về cấm tiến hành các hoạt động quân sự và hoạt động thù địch làm biến đổi môi trường sinh thái.

Tuy nhiên, chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 đã cho thấy: các quy tắc trên chỉ được ít người biết tới và đôi khi có biết thì cũng thiếu chính xác. Vì vậy nên năm 1994, với sự khích lệ của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc và với sự trợ giúp của các chuyên gia về các lĩnh vực trên, UBCTĐQT đã dự thảo cuốn Sổ tay hướng dẫn quân sự và hướng dẫn việc bảo vệ môi trường khi xảy ra xung đột vũ trang.

Một sự phát triển mới khác gần đây nhất là cuốn sở tay San Rê-mô (San Remo) về vấn đề áp dụng luật quốc tế đối với các cuộc xung đột vũ trang trên biển. Cuốn sách này - được Viện quốc tế về Luật Nhân đạo thực hiện với sự hỗ trợ của UBCTĐQT, có một vai trò quan trọng vì đã được các chính phủ công nhận bằng một nghị quyết được thông qua tại Hội nghị Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế lần thứ 26 họp tại Giơ-ne-vơ năm 1995.

Mặc dầu các Công ước Giơ-ne-vơ và các Nghị định thư bổ sung không nói rõ việc cấm sử dụng vũ khí nguyên tử, song những nguyên tắc chung của Luật Nhân đạo Quốc tế đã đựoc áp dụng vào các trường hợp như vậy. Chẳng hạn trong số các nguyên tắc của luật có nguyên tắc: trong mọi hoàn cảnh, các bên tham chiến phải phân biệt giữa binh lính và dân thường, đồng thời cấm sử dụng những loại vũ khí có thể gây nên những đau đớn không cần thiết. Việc áp dụng những nguyên tắc này đối với các vũ khí nguyên tử đã được Tòa án quốc tế La-hay tái khẳng định vào năm 1996.

Luật Nhân đạo có thể cung cấp cơ sở vật chất gì cho các nạn nhân của xung đột vũ trang?

Các quốc gia thành viên Công ước Giơ-ne-vơ đều chấp nhận việc các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang có quyền được nhận những đồ dùng thiết yếu cho cuộc sống của mình. Quyền này đã được phát triển thêm với việc thông qua hai Nghị định thư bổ sung năm 1977.

Khi xảy ra xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế, quyền nhận cứu trợ bao gồm: Không được giữ lại những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống của thường dân (điều 23 của Công ước thứ tư, dự thảo đề phòng những trường hợp bị cấm vận). Nước chiếm đóng có nhiệm vụ đảm bảo cung cấp mọi thứ cần thiết cho nhân dân trên lãnh thổ bị chiếm đóng (điều 55 của Công ước thứ tư). Trong trường hợp không thể đáp ứng nổi các nhu cầu, nước chiếm đóng phải cho phép nhận tiếp tế từ các nguồn bên ngoài (điều 59 của Công ước thứ tư).

Nghị định thư I (Điều 69 và 70) củng cố thêm các quy tắc đã được thông qua năm 1945. Ví dụ: một quốc gia đang có chiến tranh phải chấp nhận kế hoạch cứu trợ mang tính nhân đạo và vô tư, kế hoạch đó được tiến hành không có sự phân biệt đối xử và được sự thỏa thuận của tất cả các bên liên quan. Trong trường hợp thỏa mãn các điều kiện như: không can thiệp vào cuộc xung đột vũ trang cũng không tham gia vào các hoạt động thù địch v.v mà bên tham gia xung đột vẫn từ chối sự tiếp nhận cứu trợ thì đó là hành động sai lầm.

Khi xảy ra xung đột vũ trang không mang tính chất quốc tế, Nghị định thư II (Điều 18) nêu cụ thể: Nếu thường dân đang phải chịu khổ cực quá mức do thiếu nguồn cung cấp thiết yếu cho cuộc sống, các hoạt động cứu trợ mang tính chất nhân đạo và vô tư phải được các bên tham chiến chấp nhận và được tiến hành không phân biệt đối xử. Ngày nay, vấn đề một quốc gia phải cho phép tiến hành các hoạt động cứu trợ mang tính nhân đạo thuần túy đã trở nên phổ biến.

Luật Nhân đạo và "quyền can thiệp vì lý do nhân đạo"

Cho tới nay, "quyền hoặc nghĩa vụ can thiệp" bao hàm ý nghĩa của quyền can thiệp vũ trang được thực hiện vì lý do nhân đạo, vấn đề ở chỗ sự can thiệp đó không được thực hiện theo quy định của Luật Nhân đạo, mà theo những quy tắc có tính chất pháp lý về quyền sử dụng vũ lực trong mối bang giao quốc tế, ví dụ như luật về sử dụng các phương tiện chiến tranh trong thời chiến.

Nếu xảy ra can thiệp vũ trang vì lý do nhân đạo thì UBCTĐQT trong phạm vi nhiệm vụ được ủy thác, phải đảm bảo sao cho các bên tham gia can thiệp tôn trọng các quy tắc liên quan của Luật Nhân đạo Quốc tế và phải nỗ lực giúp đỡ các nạn nhân trong cuộc xung đột.

UBCTĐQT không phản đối và cũng không ủng hộ "quyền can thiệp". Theo kinh nghiệm riêng, UBCTĐQT cho rằng việc can thiệp như vậy thường mang tính chất chính trị nên nếu để bị lôi cuốn vào đó sẽ gây tổn hại cho công tác cứu trợ nhân đạo của mình.

          Luật Nhân đạo có những quy định gì đối với vấn đề khôi phục liên lạc với gia đình?

Là hậu quả của xung đột vũ trang, tù binh chiến tranh và dân thường bị bắt giữ phải sống cách biệt với gia đình, vì vậy nên cảnh gia đình bị ly tán hoặc các thành viên bị lưu lạc. Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư I bao gồm nhiều điều khoản pháp lý bảo vệ các nạn nhân kể trên. Những điều khoản này được áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế và UBCTĐQT được ủy thác thực hiện các nhiệm vụ sau:

1. Chuyển thông điệp và các loại thông tin khác đến gia đình, bao gồm:

Nhận và đăng ký thẻ tù cho tù binh chiến tranh và tù thường phạm; nhân đôi số thẻ đó và gửi một thẻ cho gia đình người bị bắt. Chuyển thư của những người bị bắt về gia đình họ. Chuyển tin tức của gia đình (Nhắn tin chữ thập đỏ) tới những người bị bắt nếu hệ thống bưu điện thông thường bị gián đoạn hoặc bị cắt đứt. Nhận và chuyển thông tin về những người bị chết. Gần đây nhất, Trung tâm Tìm kiếm trung ương của UBCTĐQT hoạt động như một bên trung gian giữa các bên tham gia xung đột, hay nói một cách chính xác hơn là giữa các Văn phòng Thông tin liên lạc quốc gia để trung chuyển những thông tin về những đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của Luật Nhân đạo.

 

2. Yêu cầu thông tin về những người bị mất tích (Điều 33 của Nghị định thư I).

3. Đoàn tụ những gia đình bị ly tán. (Điều 74 của Nghị định thư I).

Văn phòng thông tin quốc gia: Công ước Giơ-ne-vơ thứ ba (điều 122) đã quy định: ngay khi cuộc xung đột nổ ra, bên trung lập hay bên tham chiến mà nhận tù binh vào lãnh thổ của mình đều phải lập một Phòng Thông tin chính thức về các tù binh mà họ đang nắm giữ. Mỗi bên trong cuộc xung đột phải cung cấp cho Phòng Thông tin của mình danh sách các tù nhân (kèm theo các chi tiết liên quan) bị các lực lượng vũ trang bắt giữ, vì thế, thân nhân người bị bắt sẽ được thông báo kịp thời. Nếu không có các văn phòng như vậy (chuyện thường xảy ra khi xung đột) thì UBCTĐQT sẽ tiến hành thu thập các thông tin về những đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của Công ước Giơ-ne-vơ.

Trung tâm tìm kiếm: "Một cơ quan Trung ương thông tin về tù binh chiến tranh sẽ được thành lập ở một nước trung lập. Nếu cần thiết thì UBCTĐQT có thể đề nghị với các nước hữu quan thành lập một cơ quan như thế. Cơ quan này có nhiệm vụ tập hợp mọi thông tin liên quan đến tù binh chiến tranh thu được qua các kênh chính thức hay kênh riêng và chuyển những thông tin đó đến nước nguyên quán của tù binh chiến tranh hay đến nước mà họ thuộc quyền trong thời hạn sớm nhất có thể". (Điều 123 Công ước Giơ-ne-vơ thứ ba).

Gia đình ly tán: "Mỗi bên trong cuộc xung đột cần phải tạo mọi điều kiện dễ dàng đối với các yêu cầu của thân nhân các gia đình bị ly tán trong chiến tranh nhằm mục đích giúp họ nối lại liên hệ gia đình và gặp gỡ nếu có thể (…)". (Điều 26, Công ước Giơ-ne-vơ thứ tư).

          Những điều khoản Luật Nhân đạo hướng dẫn việc sử dụng biểu tượng?

Các Công ước Giơ-ne-vơ nêu ra bao loại biểu tượng: Chữ thập đỏ, Lưỡi liềm đỏ, Sư tử và Mặt trời đỏ. Nhưng ngày nay chỉ sử dụng hai dạng biểu tượng đầu tiên, còn biểu tượng Sư tử và Mặt trời đỏ không được sử dụng nữa.

Các Công ước và Nghị định thư bổ sung bao gồm nhiều điều khoản về biểu tượng. Một số điều khoản nêu cụ thể cách thức sử dụng, kích cỡ, mục đích và nơi đặt biểu tượng, đối tượng và tài sản được sử dụng biểu tượng, phải tôn trọng biểu tượng ra sao và biện pháp trừng phạt đối với sự lạm dụng biểu tượng thế nào.

Khi xảy ra xung đột vũ trang, biểu tượng được sử dụng như tín hiệu bảo vệ chỉ trong các trường hợp sau:

- Các đơn vị cứu thương của các lực lượng vũ trang;

- Các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia được các chính phủ hoàn toàn công nhận và ủy nhiệm làm công tác y tế trong các lực lượng vũ trang. Các Hội quốc gia có thể sử dụng các biểu tượng như tín hiệu bảo vệ cho các nhân viên và trang thiết bị y tế khi chính thức tham gia phục vụ trong thời chiến, với điều kiện là các nhân viên và trang thiết bị đó có cùng nhiệm vụ và phải tuân thủ các quy tắc và điều lệnh quân sự;

- Các bệnh viện dân sự và các trạm y tế khác được Chính phủ công nhận và cho phép sử dụng biểu tượng làm tín hiệu bảo vệ (ví dụ: các trạm sơ cấp cứu, xe cứu thương…);

- Các cơ quan cứu trợ tình nguyện khác: cũng được hưởng những điều kiện giống các Hội quốc gia: phải được chính phủ công nhận và cho phép có thể dùng biểu tượng cho các nhân viên và trang thiết bị dành phục vụ riêng công tác y tế và phải tuân thủ các quy tắc và các điều lệnh quân sự.

Luật Nhân đạo quốc tế cũng chỉ rõ rằng mỗi bên tham gia các Công ước Giơ-ne-vơ đều phải cam kết áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn và trừng phạt việc lạm dụng biểu tượng cả trong thời chiến và thời bình và phải ban hành các quy định về việc tôn trọng biểu tượng.

Sử dụng biểu tượng

- Sử dụng biểu tượng như tín hiệu bảo vệ: là sử dụng dấu hiệu bảo vệ nhìn thấy được dành cho các đối tượng như nhân viên, đơn vị và phương tiện vận chuyển y tế, phù hợp với quy định của Công ước Giơ-ne-vơ.

- Sử dụng biểu tượng như tín hiệu chỉ dẫn: là dấu hiệu để chứng minh đó là nhân viên hay vật dụng thuộc Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế trong cả thời bình và thời chiến.

UBCTĐQT được quyền sử dụng biểu tượng trong cả hai trường hợp trên (bảo vệ và chỉ dẫn).

Lạm dụng biểu tượng

Bất kỳ sử dụng biểu tượng nào mà không được Luật Nhân đạo Quốc tế cho phép đều bị coi là lạm dụng biểu tượng. Thông thường có ba hình thức lạm dụng như sau:

- Bắt chước: là sử dụng dấu hiệu có kí hiệu hoặc hình dạng màu sắc giống như biểu tượng và có thể gây nhầm lẫn với biểu tượng.

- Chiếm dụng: là những cá nhân và cơ quan không được phép sử dụng biểu tượng nhưng vẫn sử dụng, ví dụ: các cơ sở thương mại, hiệu thuốc, bác sĩ tư nhân, các tổ chức phi chính phủ hoặc chỉ là dân thường v.v). Nếu những ai cho phép sử dụng biểu tượng như vậy thì theo luật của các Công ước và Nghị định cũng là chiếm dụng.

 - Đánh lừa: là khi xảy ra xung đột đã lợi dụng biểu tượng để bảo vệ binh lính hoặc các thiết bị quân sự. Việc sử dụng biểu tượng để đánh lừa như thế có thể cấu thành sự vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế, có thể bị kết án là tội phạm chiến tranh.

Lạm dụng biểu tượng vào mục đích bảo vệ trong thời chiến đã gây nên sự thách thức đối với hệ thống bảo hộ do Luật Nhân đạo Quốc tế xác lập nên. Lạm dụng biểu tượng vào mục đích chỉ dẫn sẽ hạ thấp hình ảnh của biểu tượng trong mắt công chúng và hậu quả là sẽ giảm hiệu lực của biểu tượng khi xảy ra chiến tranh. Các bên ký kết Công ước Giơ-ne-vơ cam kết sẽ áp dụng những biện pháp trừng phạt nhằm ngăn chặn và hạn chế việc lạm dụng biểu tượng trong cả thời bình và thời chiến.

Luật Nhân đạo bảo vệ những người tỵ nạn và di cư như thế nào?

Người tỵ nạn: là những người phải rời bỏ đất nước quê hương mình. Theo điều 1 của Công ước 1951, thuật ngữ người tỵ nạn được dành cho những người "phải lánh nạn ra nước ngoài vì sợ hãi có thể bị ngược đãi vì những lý do: chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, thành viên của một tổ chức xã hội đặc biệt, bất đồng chính kiến chính trị; những người không có khả năng hoặc do bị ám ảnh bởi những sợ hãi như trên mà không muốn xin nhận sự bảo hộ của chính quốc; hoặc những người không có quốc tịch và hiện đang ở nước ngoài vì những lý do nêu trên nên không thể hoặc do quá sợ hãi mà không muốn trở về nước".

Công ước của Tổ chức Thống nhất Châu Phi và Tuyên bố Các-ta-gien-na đã mở rộng hơn phạm vi của định nghĩa này vì đã bổ sung vào những người chạy trốn khỏi các biến cố làm rối loạn an ninh công cộng như xung đột vũ trang hoặc nội chiến…

Người tỵ nạn trước hết được hưởng sự bảo hộ của luật về người tỵ nạn và thuộc phạm vi bảo hộ của Cao ủy Liên Hợp quốc về Người tỵ nạn (UNHCR). Người tỵ nạn cũng được Luật Nhân đạo Quốc tế bảo hộ khi họ là nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang, nằm trong tay bên đối phương hoặc bị ảnh hưởng của những hoạt động thù địch trên đất nước mà họ đang tạm cư ngụ. Công ước Giơ-ne-vơ thứ tư và Nghị định thư I đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với người tỵ nạn, nhất là những người đang sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng. Công ước thứ tư cũng nhắc tới nguyên tắc không hồi cứu mà luật về người tỵ nạn đã lấy đó làm cơ sở.

Trong xung đột vũ trang, những người di cư trên lãnh thổ của nước mình được bảo hộ bằng các quy tắc của Luật Nhân đạo Quốc tế. Luật này đã mở rộng phạm vi bảo hộ rộng rãi tới từng người dân thường. Những quy tắc đó cũng nhằm chủ yếu bảo vệ thường dân khỏi ảnh hưởng của những hoạt động thù địch; ví dụ, cấm tấn công hoặc khủng bố, hoặc sử dụng biện pháp gây đói kém như là công cụ của chiến tranh, hoặc phá hủy nguồn lương thực thực phẩm thiết yếu của những người tỵ nạn. Khi xảy ra nội chiến, những người vô gia cư được bảo hộ bằng Điều 3 chung của Bốn Công ước Giơ-ne-vơ và Nghị định thư II.

Luật Nhân đạo cám việc cưỡng chế di cư trừ trường hợp cần thiết vì lý do an ninh của nhân dân hoặc những lý do quân sự bức thiết. Hơn thế, Luật Nhân đạo bảo hộ cho dân thường cần phải có hiệu lực ngăn ngừa cưỡng bức di cư. Thật đáng tiếc, những quy tắc này thường xuyên bị vi phạm trong những cuộc xung đột gần đây, cho nên vấn đề quan trọng hơn cả là phải đảm bảo tôn trọng hơn nữa các điều khoản đang có hiệu lực hơn là dự thảo thêm những điều khoản mới.

Để thực hiện Luật Nhân đạo cần những biện pháp gì?

Trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang có thể sử dụng ba biện pháp sau:

Các biện pháp phòng ngừa: dựa trên nghĩa vụ của các quốc gia phù hợp với Luật Nhân đạo, các biện pháp phòng ngừa bao gồm: Phổ biến rộng rãi Luật Nhân đạo; Huấn luyện những chuyên gia lành nghề để tạo điều kiện thực hiện Luạt Nhân đạo và chỉ định các cố vấn pháp lý trong các lực lượng vũ trang; Thông qua những điều khoản pháp lý và điều khoản theo luật định để phù hợp với Luật Nhân đạo; Dịch thuật tài liệu của các Công ước.

Các biện pháp thúc đẩy phù hợp với những điều khoản của Luật Nhân đạo về thời hạn kéo dài cuộc xung đột. Hành động của các nước bảo hộ hoặc các thể chế của họ. Hành động của UBCTĐQT.

Các biện pháp trấn áp: dựa trên nghĩa vụ của các bên tham chiến nhằm ngăn ngừa và chặn đứng bạo lực. Cơ chế trấn áp bao gồm: Thông qua tòa án quốc gia, thực hiện nghĩa vụ trấn áp những vi phạm nghiêm trọng, ví dụ như tội phạm chiến tranh; Trách nhiệm hình sự và kỷ luật của những người giám sát hoặc trách nhiệm của người chỉ huy quân sự về trấn áp và tố cáo kẻ phạm tội; Giúp đỡ lẫn nhau giữa các quốc gia về vấn đề tội phạm.

Tuy đã có sẵn trong bất kỳ một cơ cấu luật pháp nào, các biện pháp trấn áp này còn có vai trò răn đe. Ngoài ra còn những biện pháp thực hiện khác mà chúng có thể đồng thời mang tính chất phòng ngừa, kiểm soát và trấn áp. Hai biện pháp sau bắt nguồn từ trách nhiệm tôn trọng Luật Nhân đạo của các quốc gia và bao gồm: Thủ tục điều tra chính thức; Ủy ban Tìm kiếm quốc tế; Xét các thủ tục về việc áp dụng và vận dụng các điều khoản pháp lý; Hợp tác với Liên Hợp quốc.

Các điều khoản pháp lý để thực hiện

"Các bên ký kết sẽ (…) trong thời bình huấn luyện những nhân viên có nghiệp vụ giỏi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các Công ước và Nghị định thư này (…)" (Điều 6, Nghị định thư I).

"Bất cứ lúc nào trong thời gian xảy ra xung đột vũ trang, các bên ký kết và các bên trong cuộc xung đột phải đảm bảo rằng các cố vấn pháp lý luôn sẵn sàng và khi cần thiết sẽ hỗ trợ các chỉ huy quân sự ở những cấp bậc phù hợp trong việc áp dụng các Công ước và Nghị định thư này và trong việc phổ biến những chỉ thị phù hợp trong các lực lượng vũ trang". (Điều 82, Nghị định thư I).

"Các bên ký kết cần thông báo cho nhau, thông qua vai trò trung gian của Hội đồng liên bang Thụy Sĩ và khi xảy ra chiến sự thì thông qua trung gian của các nước bảo hộ, bản dịch chính thức của Công ước này, cũng như về luật lệ và quy tắc cần thiết mà họ có thể thông qua để đảm bảo việc thi hành Công ước này". (Điều 48/49/128/145 chung cho bốn Công ước Giơ-ne-vơ).

"Các bên ký kết cam kết tôn trọng Công ước này và bảo đảm cho công ước này được tôn trọng trong mọi trường hợp". (Điều 1 chung các Công ước Giơ-ne-vơ).

"Nếu pháp luật của các bên ký kết tỏ ra chưa hoàn toàn thỏa đáng thì họ có thể tiến hành những biện pháp cần thiết vào bất cứ lúc nào để phòng ngừa và trấn áp mọi sự lạm dụng những dấu hiệu phân biệt (…)". (Điều 45, Công ước Giơ-ne-vơ thứ hai).

"Các bên ký kết cam kết sẽ ban hành những điều luật cần thiết để định ra những khung hình phạt đối với những người vi phạm, hoặc ra lệnh cho người khác vi phạm nghiêm trọng thuộc phạm vi quy định của Công ước này (…). Mỗi bên ký kết có nghĩa vụ phải tìm kiếm những người bị buộc tội là đã vi phạm, hoặc ra lệnh cho người khác vi phạm nghiêm trọng các điều ghi trong Công ước và phải truy tố họ trước tòa án của nước mình bất luận kẻ phạm tội có quốc tịch nào". (Điều 49/50/129/146 chung cho bốn Công ước Giơ-ne-vơ).

"Công ước này được áp dụng với sự hợp ác và sự kiểm soát của nước bảo hộ là những nước có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia xung đột. Nhằm mục đích đó, những nước bảo hộ có thể chỉ định thêm các đại biểu trong số các công dân của nước họ hoặc của một nước trung lập, ngoài số nhân viên ngoại giao hay nhân viên lãnh sự". (Điều 8 Công ước Gio-ne-vơ I, II, III và điều 9 Công ước Giơ-ne-vơ thứ tư).

"Các bên ký kết sẽ hỗ trợ tư pháp lẫn nhau ở mức độ rộng rãi nhất trong mọi thủ tục xét xử những tội phạm đã vi phạm nghiêm trọng Công ước này (…). Khi điều kiện cho phép, các bên ký kết sẽ hợp tác với nhau về vấn đề dẫn độ (…)". (Điều 88, Nghị định thư I).

"Nước nộp lưu chiểu Nghị định thư này, theo yêu cầu của một hay nhiều bên ký kết và với sự ủng hộ của đa số cac bên ký kết, có thể triệu tập hội nghị của các bên ký kết để xem xét các vấn đề chung liên quan tới việc áp dụng các Công ước và Nghị định thư này". (Điều 7, Nghị định thư I).

"Trong những trường hợp có sự vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của Công ước và Nghị định thư này, các bên ký kết sẽ hành động phối hợp hoặc riêng rẽ với Liên Hợp quốc để xử lý, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc". (Điều 89, Nghị định thư I).

"Một ủy ban Tìm kiếm Quốc tế sẽ được thành lập và gồm 15 thành viên có đạo đức tư cách tốt cũng như được công nhận là vô tư (…), ủy ban có thểm quyền: i) Điều tra các sự kiện bị coi là đã vi phạm nghiêm trọng các điều trong Công ước và Nghị định thư này". (Điều 90, Nghị định thư I).

UBCTĐQT có vai trò gì đối với vấn đề tôn trọng Luật Nhân đạo?

Với vai trò thúc đẩy và bảo hộ cho luật quốc tế nhân đạo, UBCTĐQT được ủy thác nhiệm vụ cổ vũ việc tôn trọng luật qua các cách thức sau:

Qua công việc: Nói một cách chính xác là thông qua công tác bảo hộ và cứu trợ các nạn nhân của xung đột vũ trang, ví dụ: thăm hỏi những người bị tước mất quyền tự do (kể cả tù binh chiến tranh), khôi phục các mối quan hệ gia đình, tiến hành cứu trợ, hoạt động y tế và phổ biến Luật Nhân đạo Quốc tế.

Qua sự phòng ngừa: Nhận thức rằng sự không hiểu biết luật là trở ngại chính cho việc thi hành luật nên UBCTĐQT luôn nhắc nhở các quốc gia về nghĩa vụ phổ biến luật rộng rãi. UBCTĐQT cũng tự tiến hành những hoạt đọng vì mục đích này. UBCTĐQT cũng yêu cầu các quốc gia phải áp dụng một cách hiệu quả và qua đó được mọi người tôn trọng. Hoạt động của UBCTĐQT chủ yếu thông qua các dịch vụ tư vấn về Luật Nhân đạo Quốc tế của mình để giúp đỡ kỹ thuật, giúp cơ quan có thẩm quyền thông qua luật và các quy phạm quốc gia để vận dụng vào hệ thống luật quốc gia.

          Tiến hành các biện pháp đặc biệt khi Luật Nhân đạo bị vi phạm?

Những biện pháp theo sáng kiến của UBCTĐQT: UBCTĐQT sẽ thông báo (không công khai) với các cơ quan có thẩm quyền về các trường hợp vi phạm Luật Nhân đạo. Nừu sự vi phạm rất nghiêm trọng và lặp đi lặp lại hoặc chắc chắn sẽ xảy ra, UBCTĐQT buộc phải công bố công khai - đó chỉ là biện pháp khả dĩ để bảo vệ quyền lợi của người bị xâm hại hoặc bị đe dọa, do đó, nó chỉ được coi là biện pháp bất đắc dĩ mà thôi.

Cổ vũ: UBCTĐQT khuyến khích các quốc gia thông qua hệ thống hành pháp quốc gia để có thể xét xử những kẻ vi phạm nghiêm trọng các quy phạm luật.

Gửi thư phản đối: Đóng vai trò trung lập, UBCTĐQT có thể được một bên trong các cuộc xung đột nhờ chuyển tới bên đối phương thư khiếu nại về việc đã vi phạm các điều khoản của Luật Nhân đạo, UBCTĐQT có thể cũng giúp đỡ chuyển thư trả lời (hồi âm) cho phía bên kia.

Đề nghị thẩm tra việc vi phạm: UBCTĐQT không là quan tòa, cũng không phải là người khởi tố hay một tòa án. UBCTĐQT chỉ đáp ứng các yêu cầu thẩm tra khi có đại diện ở những nơi mà nhiệm vụ nhân đạo có thể được thực hiện dễ dàng với điều kiện nhận được sự bảo đảm rằng hiện diện của mình không bị lợi dụng vào các âm mưu chính trị.

Các bước nêu trong điểm c và d trên đây hầu như không còn được sử dụng trong những cuộc xung đột gần đây.

     UBCTĐQT với vai trò người bảo vệ Luật Nhân đạo Quốc tế

Luật Nhân đạo giao phó trách nhiệm cho UBCTĐQT phải đảm bảo sao cho các quy định của Luật Nhân đạo được tôn trọng: "Đại diện hoặc đại biểu của các nước bảo hộ được phép đi đến tất cả những nơi có tù nhân chiến tranh ở, đặc biệt là những nơi giam giữ, nhà tù và nơi cải tạo lao động (…) Và: "Đại diện của UBCTĐQT cũng được hưởng những đặc quyền tương tự" (Điều 126, Công ước thứ ba). Lưu ý: Điều 143 của Công ước thứ tư cũng bao gồm những điều khoản giống như vậy đối với những người được bảo hộ.

Điều lệ của Phong trào cũng nêu một trong những nhiệm vụ của UBCTĐQT là: "Thi hành nhiệm vụ theo quy định của các Công ước Giơ-ne-vơ, làm việc sao cho Luật Nhân đạo Quốc tế được áp dụng trung thực trong các cuộc xung đột vũ và xem bất cứ khiếu kiện nào liên quan đến việc vi phạm Luật Nhân đạo". (Điều 5, đoạn 2c).

Luật Nhân đạo Quốc tế xét xử tội phạm chiến tranh như thế nào?

Thế nào là tội phạm chiến tranh? Tội phạm chiến tranh thường được hiểu là sự vi phạm nghiêm trọng Luật Nhân đạo Quốc tế hoặc theo cách nói truyền thống, đó là sự vi phạm các quy định và tập quán luật về chiến tranh. Hiện nay, danh sách các tội danh về tội phạm chiến tranh là những tội danh do ủy ban Trù bị của Liên Hợp Quốc về thành lập Tòa án hình sự Quốc tế nêu ra và đã được chấp nhận. Tấn công vào những người đứng ngoài hoặc đã bị loại ra khỏi vòng chiến như thương binh, bệnh binh, tù nhân chiến tranh, dân thường ...  bị coi là tội phạm chiến tranh. Các tội cụ thể: Cố ý giết người; Tra tấn và đối xử vô nhân đạo; Cố tình gây nên những nỗi đau đớn khủng khiếp; Gây nguy hiểm trầm trọng đến toàn vẹn thân thể hoặc sức khỏe; Tấn công vào dân thường; Lưu đày hoặc cưỡng ép di cư các bộ phận dân chúng; Sử dụng những vũ khí hoặc phương tiện chiến tranh bị cấm như các loại vũ khí hóa học, vũ khí vi trùng và vũ khí gây cháy; Sử dụng lừa gạt những biểu tưởng phân biệt của Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ hoặc những biểu tượng bảo vệ khác; Cướp bóc tài sản của công và của cá nhân.

Cần ghi nhận rằng trong khi Tòa án Hình sự Quốc tế xét xử tộ phạm ở Nam Tư cũ đã thừa nhận khái niệm về tội phạm chiến tranh được áp dụng đối với các hành vi nghiêm trọng vi phạm trong nội chiến thì các quy phạm luật lại chỉ coi các khái niệm đó như là một quy phạm luật có hiệu lực trong khuôn khổ của xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế mà thôi. Việc trấn áp hình sự các tội phạm chiến tranh cũng dược xem như phương thức thực hiện Luật Nhân đạo trên cả bình diện quốc gia hay quốc tế. Cũng cần ghi nhận những cố gắng của một cộng đồng quốc tế để thành lập một tòa án quốc tế thường trực để xét tội phạm chiến tranh. Theo dự án đang tồn tại đến nay (1997), tòa án có quyền xét xử các tội ác chống lại nhân loại, kể cả tội diệt chủng. Là thành viên các Công ước Giơ-ne-vơ, các quốc gia bắt buộc phải áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết để trừng phạt những kẻ phạm vào những tội danh nghiêm trọng đã nêu trong các Công ước trên. Các quốc gia cũng có trách nhiệm phải đưa ra tòa án của nước mình xét xử những kẻ bị tình nghi đã vi phạm nghiêm trọng các điều khoản nêu trong các Công ước; hoặc dẫn độ sang nước khác để xét xử. Nói một cách khác, những kẻ đã phạm trọng tội, ví dụ như tội phạm chiến tranh thì phải bị xét xử ở mọi nơi, mọi chỗ và các quốc gia phải chịu trách nhiệm thi hành việc xét xử đó.

Nói chung, luật hình sự của một quốc gia thường chỉ áp dụng cho loại tội phạm xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia đó, hoặc đối với những công dân của họ. Luật Nhân đạo Quốc tế tiến xa hơn bằng cách yêu cầu các quốc gia phải truy nã và đem xét xử bất cứ kẻ nào phạm trọng tội bất chấp vấn đề quốc tịch và nơi phạm tội. Nguyên tắc pháp lý quốc tế này chủ yếu nhằm bảo đảm ngăn chặn một cách hiệu quả việc phạm trọng tội. Việc xét xử có thể được tiến hành tại tòa án quốc gia hoặc quốc tế. Chẳng hạn năm 1993 và năm 1994, Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc đã thiết lập Tòa án Hình sự Quốc tế để xét xử tội phạm chiến tranh ở Nam Tư cũ và Ru-an-đa.

Luật Nhân đạo Quốc tế khác Luật Nhân quyền như thế nào?

Luật Nhân đạo Quốc tế và Luật quốc tế về quyền con người (sau đây gọi là Luật Nhân quyền) bổ trợ cho nhau. Cả hai luật đều tìm cách bảo vệ con người nhưng mỗi luật tiến hành trong những bối cảnh khác nhau và cũng theo những cách thức khác nhau.

Luật Nhân đạo chỉ áp dụng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang, trong khi Luật Nhân quyền nhằm bảo vệ quyền con người hoặc chí ít thì cũng một số quyền cơ bản của con người trong mọi tình huống cả trong thời bình và thời chiến.

Nếu mục đích của Luật Nhân đạo là bảo vệ các nạn nhân bằng cách cố gắng giảm thiểu những đau đớn do chiến tranh gây ra thì Luật Nhân quyền bảo vệ mọi con người và thúc đẩy sự phát triển của họ.

Luật Nhân đạo quan tâm trước hết tới việc đối xử với những người bị rơi vào tay đối phương và tới các cách thức tiến hành chiến tranh của các bên tham chiến, trong khi luật về quyền con người thông qua việc hạn chế bớt quyền lực của quốc gia đối với con người để bảo vệ con người khỏi bị đối xử một cách độc đoán. Luật Nhân quyền không chi phối các hoạt động tác chiến quân sự.

Luật Nhân đạo xác lập cơ chế kiểm soát thường xuyên thi hành luật và nhấn mạnh sự hợp tác giữa các bên tham gia xung đột và giữ quan điểm trung lập nhằm ngăn chặn bạo lực. Kết quả, sự tiếp cận của UBCTĐQT với vai trò đảm bảo cho Luật Nhân đạo được tôn trọng đã được coi là tiền lệ để thuyết phục.

Cơ chế giám sát quyền con người rất đa dạng. Trong nhiều trường hợp, đòi hỏi phải thành lập nhiều thể chế thích hợp cho dù quốc gia đó có tôn trọng luật hay không. Ví dụ, Tòa án Nhân quyền châu Âu, sau khi đã hoàn tất xét xử một trường hợp nào đó, có thể tuyên bố quốc gia của người đó đã vi phạm Công ước về quyền con người của châu Âu. Nước bị buộc tội phải tiến hành những biện pháp cần thiết để chứng minh rằng tình hình trong nước họ vẫn thích hợp các yêu cầu của Công ước. Cơ chế thực hiện quyền con người chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của con người không bị xâm hại.

Luật Nhân đạo có được áp dụng đối với các hoạt động gìn giữ và cưỡng chế hòa bình của Liên Hợp quốc hay không?

Luật Nhân đạo được áp dụng khi binh lính của các đơn vị vũ trang sử dụng vũ lực theo sự cho phép hoặc ủy quyền Liên Hợp quốc nhằm chống lại những lực lượng vũ trang có tổ chức.

Cần phải tôn trọng thỏa thuận về việc các nước góp quân theo những nguyên tắc và tinh thần của các điều luật quốc tế đem áp dụng nhằm chi phối quan hệ xử sự của quân lính và về việc tôn trọng đối với Luật Nhân đạo mà Liên Hợp quốc đã ký kết với các quốc gia thành viên về hoạt động gìn giữ hòa bình. Các nước cung cấp quân phải đảm bảo rằng quân của họ thông hiểu các quy phạm luật của Công ước quốc tế. Các quy phạm luật và các chỉ thị quốc gia để thi hành các Công ước quốc tế cũng được áp dụng.

 

Ủy ban Chữ thâp đỏ quốc tế với Luật nhân đạo quốc tế và Liên hợp quốc

Để thực hiện nhiệm vụ "Hoạt động làm tăng sự hiểu biết và phổ biến kiến thức về Luật Nhân đạo áp dụng khi xảy ra xung đột vũ trang, đồng thời dự phòng mọi tình huống phát sinh", UBCTĐQT quan tâm tới vấn đề áp dụng luật quốc tế nhân đạo trong các lực lượng gìn giữ và cưỡng chế hòa bình. Vấn đề này cần đượ clàm rõ vì những đội quân như trên hiện đang can thiệp với tần số ngày càng nhiều hơn và trong những tình huống rất bạo lực có thể dẫn tới việc sử dụng vũ lực.

Để đạt được mục đích đó, UBCTĐQT đã tổ chức hội nghị các chuyên gia nhằm xác định khả năng áp dụng Luật Nhân đạo Quốc tế vào các lực lượng đặt dưới sự chỉ huy và kiểm soát của Liên Hợp quốc. Các lực lượng này trong tình huống xảy ra xung đột vũ trang sẽ tham gia tích cực vào lực lượng chiến đấu. Về phía mình, Liên Hợp quốc giữ lập trường là chỉ áp dụng những nguyên tắc và tinh thần của Luật Nhân đạo Quốc tế. Các chuyên gia đã dự thảo hướng dẫn trong đó nêu rõ sự tôn trọng các "nguyên tắc" và "tinh thần" mà Liên Hợp quốc phải thi hành và áp dụng trong khuôn khổ các hoạt động gìn giữ hoặc cưỡng chế hòa bình mà việc sử dụng vũ lực được cho phép vì lý do tự vệ chính đáng hoặc để đảm bảo một nhiệm vụ đặc biệt do Hội đồng Bảo an giao phó.

Cũng cần nhấn mạnh rằng "đội quân mũ nồi xanh" dù là quốc tịch nào, cũng phải tôn trọng các quy định của Luật Nhân đạo Quốc tế mà các quốc gia đã ký kết và chịu sự ràng buộc. Nếu họ vi phạm luật thì sẽ bị đưa ra xét xử tại tòa án của quốc gia mình.

Tại sao những nguyên tắc của Luật Nhân đạo luôn luôn không được tôn trọng và thường không ngăn chặn được các sự vi phạm?

Có nhiều cách để trả lời câu hỏi này: Một số đổ thừa cho sự thiếu hiểu biết về pháp luật, một số khác lý giải tại bản chất của chiến tranh, song cũng có nhiều ý kiến cho rằng hệ thống trừng phạt tập trung không có hiệu quả đối với luật quốc tế nói chung và Luật Nhân đạo nói riêng, nhất là đối với cấu trúc của cộng đồng quốc tế ngày nay. Cho nên, mặc dầu cả luật quốc tế và quốc gia đều có hiệu lực đang tồn tại nhưng sự vi phạm luật pháp vẫn phổ biến cả trong thời bình lẫn thời chiến.

Không thể để lọt lưới tội phạm; cần nỗ lực phấn đấu để Luật Nhân đạo tiếp tục được tôn trọng. Cho nên, trong khi chờ đợi có một hệ thống trừng phạt có hiệu quả hơn, cần lên án nghiêm khắc và áp dụng những biện pháp ngăn chặn và trừng phạt đối với những hành động vi phạm luật pháp. Để đạt mục đích đó, trấn áp tội phạm chiến tranh cần được xem như một phương tiện thi hành Luật Nhân đạo ở cấp độ quốc gia và quốc tế.

Sau cùng, cần ghi nhận các cố gắng của Cộng đồng quốc tế mong muốn thiết lập một Tòa án Hình sự Thường trực Quốc tế. Đến thời điểm hiện nay (1997), mục đích của văn kiện dự thảo là xét xử tội phạm chiến tranh và những tội ác chống lại loài người, kể cả tội diệt chủng.

Một Tòa án như vậy sẽ góp phần chấm dứt việc các tội phạm lẩn tránh không bị phán xét của pháp luật như hiện nay.

BIỂU TƯỢNG CỦA PHONG TRÀO CTĐ - TLLĐ QUỐC TẾ

ICRC

Biểu tượng của Phong trào CTĐ-TLLĐ Quốc tế

Biểu tượng của

Ủy ban Quốc tế CTĐ

Biểu tượng của Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế

Biểu tượng của

Hội Chữ thập đỏ quốc gia

Biểu tượng của Hội Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia

Tất cả Biểu tượng đều phải là màu đỏ trên nền trắng

 

Biểu tượng có 2 tác dụng Bảo vệ và Nhận diện:

- Bảo vệ: Đây là mục đích cơ bản của Biểu tượng, khi có xung đột, các bên tham chiến không được tấn công, xâm phạm những nơi có Biểu tượng (Biểu tượng phải có kích thước lớn). Biểu tượng dùng để bảo vệ cho các đơn vị quân y; các đơn vị y tế của Hội CTĐ quốc gia (bệnh viện, trạm cấp cứu) và phương tiện giao thông vận tải (đường bộ, đường thủy, đường không) được giao nhiệm vụ cứu thương; các cơ sở y tế dân sự (bệnh viện, trạm cấp cứu được Chính phủ và các cấp chính quyền giao nhiệm vụ cứu chữa thương binh trong chiến tranh và hoạt động nhân đạo (không thu tiền); các tổ chức cứu trợ tình nguyện khác được Chính phủ cho phép hoạt động phục vụ cứu thương, họ được dùng Biểu tượng cho nhân viên hoặc thiế bị khi phục vụ trong các đơn vị y tế của lực lượng vũ trang; Họ phải tuân theo các quy định và luật quân sự.

- Nhận diện: Với mục đích nhận diện, Biểu tượng được sử dụng chủ yếu trong thời bình, để biết đó là một cá nhân hoặc tài sản có liên quan đến Phong trào CTĐ-TLLĐ (Biểu tượng phải có kích thước nhỏ). Với mục đích này, Biểu tượng dùng cho hội viên, nhân viên của Hội CTĐ/TLLĐ khi làm nhiệm vụ và được đeo cùng với tên đầy đủ hoặc chữ viết tắt tên Hội quốc gia; Đội viên thanh thiếu niên CTĐ-TLLĐ được sử dụng Biểu tượng nhưng phải kèm theo các chữ "Thanh thiếu niên CTĐ/TLLĐ"; những người đã tham gia các khóa học hoặc các kỳ thi của Hội quốc gia có thể đeo Biểu tượng với kích thước nhỏ kèm theo tên hoặc chữ viết tắt Hội quốc gia; những nhà cửa, trụ sở, tài sản được Hội quốc gia sử dụng được đánh dấu bằng Biểu tượng và kèm theo tên Hội quốc gia; các bệnh viện, trạm cấp cứu, xe cứu thương và các phương tiện vận chuyển khác do Hội quốc gia sử dụng được treo Biểu tượng cùng với tên của Hội.

Ủy ban Quốc tế CTĐ và Hiệp Hội CTĐ-TLLĐ Quốc tế có thể sử dụng Biểu tượng trong mọi trường hợp và không hạn chế nào. Luật Nhân đạo quốc tế quy định về hình thức, phạm vi sử dụng Biểu tượng. Các Chính phủ tham gia Luật Nhân đạo quốc tế đều phải thực hiện theo quy định này.

 

LUẬT VÀ PHÁP LỆNH CHỮ THẬP ĐỎ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

 

          Dưới đây, xin giới thiệu tóm tắt 04 Luật và Pháp lệnh của một số nước trong khu vực Châu á (Luật hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Trung quốc, Luật hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, Luật hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Hàn Quốc và Pháp lệnh hoàng gia của Hội Chữ thập đỏ Campuchia), với mục đích tham khảo phục vụ cho việc xây dựng Luật hoạt động Chữ thập đỏ của nước ta.

1) Cơ quan ban hành

          03 Luật hoạt động của Hội quốc gia do Quốc hội ban hành gồm:

          - Luật quốc gia về hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản ban hành 14/8/1952 và sửa đổi ngày 19/8/1953.

          - Luật Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc được thông qua ngày 31/10/1993.

          - Luật hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Hàn Quốc ban hành 30/4/1949 và được sửa đổi nhiều lần, Bản sửa đổi mới nhất là ngày 1/3/1999.

          02 Pháp lệnh Chữ thập đỏ:

          - Pháp lệnh Hoàng gia về hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Campuchia, do Nhà vua Campuchia phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Campuchia.

          - Pháp lệnh Hoàng gia về Biểu tượng Chữ thập đỏ do Nhà vua Campuchia phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Campuchia.

     2) Cấu trúc và tóm tắt nội dung của các Luật và Pháp lệnh

          2.1. Luật quốc gia về hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản ban hành 14/8/1952 và sửa đổi ngày 19/8/1953.          Luật bao gồm 6 chương với 41 điều, với các điều khoản quy định chung về vị thế pháp lý, mạng lưới tổ chức và hoạt động của Hội quốc gia ; vai trò và trách nhiệm của Nhà nước trong các hoạt động Chữ thập đỏ và các quy định về giám sát, thi hành. Có 1 số điểm đáng lưu ý trong văn bản Luật này là được giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động về cứu trợ xã hội, bao gồm cả các hoạt động cứu trợ khẩn cấp. Hội quốc gia có thể huy động các nguồn lực để thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình nhằm giúp đỡ những người dễ bị tổn thương trong cộng đồng nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả. Chính phủ chịu trách nhiệm bồi hoàn/ hỗ trợ đền bù các nguồn lực này cho Hội quốc gia sau đó.

          2.2. Luật Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc được thông qua ngày 31/10/1993. Luật bao gồm 5 chương với 28 điều,quy định cơ cấu tổ chức, vị thế và các nhiệm vụ của Hội quốc gia. Điều 1 của Luật này đã xác định: Luật này được ban hành để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe, phát huy chủ nghĩa nhân đạo, tăng cương các mục tiêu hòa bình và tiến bộ, cũng như đảm bảo việc thực hiện đầy đủ pháp luật của Hội Chữ thập đỏ Trung quốc đối với các nhiệm vụ của mình. Về trách nhiệm của Chính phủ, Luật xác định: Cùng với sự hỗ trợ về mặt tài chính, Chính phủ Trung quốc sẽ đảm bảo việc thực hiện đầy đủ luật pháp của Hội đối với các nhiệm vụ của mình và giám sát các hoạt động của Hội, đồng thời Hội sẽ giúp Chính phủ thực hiện các hoạt động phù hợp với nhiệm vụ của Hội (trích điều 5). Về việc bảo vệ và sử dụng biểu tượng, Luật xác định: nếu người nào cản trở việc thực hiện nhiệm vụ theo pháp luật của nhân viên Chữ thập đỏ bằng cách dùng bạo lực hoặc đe dọa sẽ bị buộc tội là tội phạm theo Điều 157 Luật hình trợ (trích điều 15).

          2.3. Luật hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Hàn Quốc ban hành 30/4/1949 và được sửa đổi nhiều lần. Bản sửa đổi mới nhất là ngày 1/3/1999. Luật bao gồm 6 Chương với 29 điều và 9 điều khoản bổ sung, quy định tổ chức và hoạt động của Hội quốc gia nhằm đáp ứng tinh thần của các Công ước Geneva và các Nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (trích điều 1). Điều 8 của Luật quy định “Chính phủ và các cơ quan chính phủ có thể phối hợp hoạt động Chữ thập đỏ theo đề nghị của Hội Chữ thập đỏ. Ngoài ra, Luật này quy định rõ Chủ tịch danh dự của Hội Quốc gia là Tổng thống Hàn Quốc và Thủ tướng Hàn quốc là Phó Chủ tịch danh dự của Hội quốc gia.

          2.4. Pháp lệnh Hoàng gia về hoạt động Hội Chữ thập đỏ Campuchia, do Nhà vua Campuchia phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Campuchia. Luật bao gồm 6 chương với 24 điều, xác định mục tiêu, nhiệm vụ và hoạt động của Hội quốc gia trong các hoạt động nhân đạo trong toàn lãnh thổ Campuchia. Có nghĩa vụ tuân thủ theo nghĩa vụ là thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Về trách nhiệm của Chính phủ, Pháp lệnh xác định: Các điều kiện để thực hiện các dịch vụ hay hoạt động này sẽ được xác nhận trong thỏa thuận giữa Hội Chữ thập đỏ Campuchia và chính quyền hữu quan (trích điều 21). Luật cũng xác định quyền hạn của Hội trong việc xây dựng, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính và tài sản.

          Pháp lệnh Hoàng gia về biểu tượng Chữ thập đỏ do Nhà vua Campuchia phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Campuchia xác định rõ vị thế pháp lý về bảo vệ và nhận diện biểu tượng; việc sử dụng, giám sát và trừng phạt khi sử dụng sai hoặc lạm dụng biểu tượng.

     3) Về phạm vị và đối tượng điều chỉnh, cả 04 Luật và Pháp lệnh Chữ thập đỏ đều quy định phạm vi và đối tượng điều chỉnh:

          - Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lĩnh vực hoạt động của Hội quốc gia.

          - Quy định sự phối hợp với các cơ quan liên quan trong từng lĩnh vực hoạt động.

          - Quy định rõ mối quan hệ giữa Hội với Chính phủ

          - Xác định trách nhiệm quản lý, đầu tư và phối hợp của Chính phủ.

 


LUẬT HỢP NHẤT HỘI CHỮ THẬP ĐỎ ĐẠI HÀN DÂN QUỐC

 

Luật số 25, ban hành ngày 30/4/1949; được sửa đổi bởi Luật số 3988 ngày 4/12/1987; được sửa đổi bởi Luật số 4268 ngày 27/12/1990; được sửa đổi bởi Luật số 4727 ngày 07/01/1994; được sửa đổi bởi Luật số 4789 ngày 20/12/1994; được sửa đổi bởi Luật số 4831 ngày 23/12/1994; được sửa đổi bởi Luật ngày 01/3/1999.

 

CHƯƠNG I. QUY TẮC CHUNG

 

          Điều 1. Mục đích

Mục đích của Luật này là đưa ra những nguyên tắc chung liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Đại Hàn Dân Quốc để những hoạt động Chữ thập đỏ diễn ra thuận lợi trên tinh thần các Công ước Giơ-ne-vơ và những nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, và qua đó, để công nhận chủ nghĩa nhân đạo như là lý tưởng của Chữ thập đỏ, và để đóng góp vào hòa bình thế giới và sự thịnh vượng của loài người.

          Điều 2. Tư cách như là một pháp nhân

Hội Chữ thập đỏ Đại Hàn Dân Quốc (sau đây được gọi là Hội Chữ thập đỏ) là một pháp nhân.

          Điều 3. Đăng ký

Những điều khoản liên quan đến việc đăng ký một tổ chức hợp nhất theo Luật Dân sự sẽ áp dụng đối với những cơ quan đó của Hội Chữ thập đỏ.

          Điều 4. Văn phòng      

1. Vị trí của Trụ sở Hội Chữ thập đỏ được quy định theo Điều lệ Hợp nhất Hội Chữ thập đỏ.

2.Theo Điều lệ, Hội Chữ thập đỏ có thể thành lập các chi nhánh tại các địa phương nếu cần thiết.

          Điều 5. Điều lệ hợp nhất Hội Chữ thập đỏ

1. Những điều sau đây sẽ được thể hiện trong Điều lệ của Hội Chữ thập đỏ:

a) Mục đích;

b) Tên;

c) Vị trí của Trụ sở và việc thành lập các chi nhánh;

   d) Đại hội đồng các đại diện quốc gia, Ủy ban trung ương và Ủy ban điều hành;

e) Cán bộ quản lý;

f) Cơ cấu nội bộ;

g) Các loại hội viên và lệ phí hội viên;

h) Tài sản và tài khoản;

i) Các hoạt động và việc tiến hành các hoạt động đó;

k) Phương thức thông báo công khai;

l) Sửa đổi quy chế; và

m) Các điều khoản khác liên quan đến việc điều hành Hội Chữ thập đỏ.

2. Việc sửa đổi Điều lệ phải được Bộ trưởng Bộ Y tế và Phúc lợi thông qua.

          Điều 6. Thành viên

1. Những người cư trú tại Đại Hàn Dân Quốc đều có thể trở thành hội viên của Hội Chữ thập đỏ không kể giới tính, quốc tịch, tôn giáo và quan điểm chính trị.

2. Hội viên có quyền và trách nhiệm theo Điều lệ.

          Điều 7. Các hoạt động

Để đạt được những mục đích nêu tại Điều 1, Hội Chữ thập đỏ sẽ thực hiện những hoạt động sau:

a) Cứu trợ tù binh chiến tranh và nạn nhân những cuộc xung đột vũ trang phù hợp với tinh thần của các Công ước Giơ-ne-vơ;

b) Giúp đỡ và cứu trợ những người bệnh và bị thương trong chiến tranh, như là một hoạt động phụ của các dịch vụ y tế quân đội;

c) Trợ giúp nạn nhân của các thiên tai như lũ lụt, hỏa hoạn, nạn đói, bệnh dịch;

d)Tham gia vào các hoạt động liên quan đến y tế công cộng và phúc lợi xã hội, bao gồm những dịch vụ y tế (cả những dịch vụ về máu và chăm nom), dịch vụ cứu trợ khẩn cấp, dịch vụ tình nguyện, dịch vụ tìm kiếm, thanh niên Chữ thập đỏ và các dịch vụ giáo dục liên quan khác;

e) Phổ biến lý tưởng của Hội chữ thập đỏ và Luật Nhân đạo quốc tế;

f)Thúc đẩy hợp tác quốc tế để thực hiện các hoạt động chữ thập đỏ; và

g)Tham gia vào những hoạt động khác liên quan đến những hoạt động được liệt kê từ mục a đến mục f.

          Điều 8. Hợp tác với Nhà nước và chính quyền địa phương

Nhà nước và chính quyền địa phương có thể hợp tác trong các hoạt động chữ thập đỏ theo yêu cầu của Hội chữ thập đỏ.

 

CHƯƠNG II. CÁC CƠ QUAN RA QUYẾT ĐỊNH

 

          Điều 9. Các loại cơ quan ra quyết định

Hội chữ thập đỏ sẽ thành lập các cơ quan ra quyết định sau:

1. Đại hội đồng các đại diện quốc gia;

2. Ủy ban trung ương; và

3. Ủy ban điều hành.

          Điều 10. Đại hội đồng các đại diện quốc gia

1. Đại hội đồng các đại diện quốc gia sẽ được Hội chữ thập đỏ thành lập nhằm mục đích giải quyết những vấn đề sau:

a) Bầu thành viên Ủy ban trung ương theo Điều 11;

b)Thông qua kế hoạch hoạt động và ngân sách;

c)Thảo luận những vấn đề quan trọng Chủ tịch đưa ra.

2. Đại hội đồng các đại diện quốc gia bao gồm một Chủ tịch và các đại diện được bổ nhiệm hay được bầu ra từ những hội viên Hội chữ thập đỏ theo quy định sau:

a) Tám người do Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc chỉ định;

b) Mười hai người do bởi Quốc hội chỉ định;

c) Hai người được bổ nhiệm bởi các Thị trưởng của Thành phố Sê-un và các Thành phố khác và các Tỉnh trưởng.

d) Sáu người được bầu bởi các Chi nhánh Hội chữ thập đỏ tại Thành phố Xê-un, các Thành phố khác và tại các tỉnh.

3. Nhiệm kỳ của một đại diện là ba năm.

4. Đại hội đồng các đại diện quốc gia sẽ được Chủ tịch triệu tập nhiều hơn một lần một năm theo Điều lệ. Tuy nhiên, Chủ tịch sẽ triệu tập Đại hội đồng nếu có ít nhất một phần ba tổng số đại diện của Đại hội đồng yêu cầu.

          Điều 11. Ủy ban trung ương

1. Ủy ban trung ương sẽ được Hội Chữ thập đỏ thành lập với mục đích thảo luận và giải quyết những vấn đề sau:

a) Sửa đổi Điều lệ;

b) Bầu thành viên Ủy ban điều hành theo Điều 12;

c) Bầu cán bộ quản lý;

d) Kết nạp hội viên và gây quỹ;

e) Cơ cấu của Hội chữ thập đỏ;

g) Kế hoạch hoạt động và ngân sách;

h) Kết quả hoạt động và quyết toán tài chính;

i) Thu mua và chuyển nhượng bất động sản và cho vay quỹ; và

k) Những vấn đề khác do Chủ tịch đưa ra.

2. Ủy ban trung ương bao gồm hai mươi tám thành viên, bao gồm cả Chủ tịch, và là những người được quy định như sau:

a) Mười chín người được bầu bởi Đại hội đồng các đại diện quốc gia; và

b) Các Bộ trưởng Bộ Tài chính và Kinh tế, Ủy ban thống nhất quốc gia, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục; và Bộ Y tế và Phúc lợi.

3. Nhiệm kỳ của một thành viên quy định tại khoản (2), mục (a) là ba năm.

4. Ủy ban trung ương được triệu tập bởi Chủ tịch nhiều hơn một lần một năm theo Điều lệ. Tuy nhiên, Chủ tịch sẽ triệu tập Ủy ban trung ương nếu có ít nhất một phần ba tổng số thành viên của Ủy ban yêu cầu.

          Điều 12. Ủy ban điều hành

1. Ủy ban điều hành được thành lập nhằm để thảo luận và giải quyết những vấn đề do Ủy ban trung ương ủy quyền hoặc những vấn đề không thích hợp để Ủy ban trung ương thảo luận do tính khẩn cấp của vấn đề, và để thảo luận sơ bộ về kế hoạch hoạt động và ngân sách, kết quả hoạt động và quyết toán tài chính trước khi Ủy ban trung ương thảo luận và giải quyết.

2. Ủy ban điều hành bao gồm bảy thành viên, kể cả Chủ tịch. Các thành viên khác sẽ gồm bốn người được bầu từ các thành viên của Ủy ban trung ương, và các Bộ trưởng Nội vụ và Y tế và Phúc lợi.

3. Những vấn đề được Ủy ban điều hành giải quyết sẽ được báo cáo lên Ủy ban trung ương.

4. Ủy ban điều hành sẽ được triệu tập bởi Chủ tịch.

          Điều 13. Số đại biểu cần thiết để ra nghị quyết

1. Chủ tịch đồng thời sẽ là Chủ tịch của Đại hội đồng các đại diện quốc gia, Ủy ban trung ương và Ủy ban điều hành, tổng hợp chung công việc của các cơ quan đó.

2. Số đại biểu cần thiết của Đại hội đồng các đại diện quốc gia, Ủy ban trung ương và Ủy ban điều hành là đa số tham gia của các đại diện hoặc thành viên đăng ký tương ứng của các cơ quan này, và nghị quyết sẽ được thông qua bởi sự nhất trí của đa số các đại diện hoặc thành viên có mặt.

 

Chương III. CÁC CƠ QUAN ĐIỀU HÀNH

 

          Điều 14. Chủ tịch danh dự và Phó chủ tịch danh dự

1. Hội Chữ thập đỏ sẽ có một Chủ tịch danh dự và một Phó chủ tịch danh dự.

2. Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc và Thủ tướng sẽ là Chủ tịch danh dự và Phó chủ tịch danh dự của Hội chữ thập đỏ.

          Điều 15. Cán bộ lãnh đạo và tư vấn

1. Các cán bộ lãnh đạo của Hội chữ thập đỏ sẽ bao gồm một Chủ tịch, hai Phó chủ tịch, một Giám sát viên tài chính và sẽ có một Cố vấn pháp lý là cán bộ tư vấn.

2. Các cán bộ lãnh đạo và tư vấn có thể làm việc theo chế độ toàn thời gian hoặc bán thời gian, theo quy định của Điều lệ.

3. Các cán bộ lãnh đạo và tư vấn sẽ được Ủy ban trung ương bầu. Tuy nhiên, Chủ tịch do Ủy ban trung ương bầu phải được Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc chấp thuận.

          Điều 16. Nhiệm kỳ của các cán bộ lãnh đạo và tư vấn

          Nhiệm kỳ của Chủ tịch là ba năm, của các cán bộ lãnh đạo khác và cán bộ tư vấn là hai năm. Các cán bộ này có thể giữ chức vụ tối đa là hai nhiệm kỳ liền nhau.

          Điều 17. Trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo và tư vấn

1. Chủ tịch sẽ đại diện cho Hội chữ thập đỏ và điều hành hoạt động của Hội nói chung.

2. Các Phó chủ tịch sẽ giúp việc cho Chủ tịch và đóng vai trò của Chủ tịch theo thứ tự ưu tiên đã được Chủ tịch chỉ định từ trước nếu Chủ tịch không đủ khả năng đảm nhiệm vai trò.

3. Giám sát viên tài chính sẽ giám sát việc quản lý tài chính của Hội chữ thập đỏ và sẽ trình ý kiến về vấn đề đó lên Ủy ban trung ương.

4. Cố vấn pháp lý sẽ tư vấn và được tham vấn về tất cả các vấn đề pháp lý của Hội chữ thập đỏ.

5. Các cán bộ quản lý và tư vấn tham dự tất cả các buổi họp của Đại hội đồng các đại diện quốc gia, Ủy ban trung ương, Ủy ban chỉ đạo, và có thể phát biểu ý kiến của mình.

     Điều 18. Các yếu tố không hội đủ điều kiện làm cán bộ quản lý

Bất kỳ ai thuộc một trong các dạng sau đây sẽ không hội đủ điều kiện làm cán bộ quản lý của Hội chữ thập đỏ:

a) Người bị cấm hoặc bị hạn chế đảm nhiệm chức vụ theo quyết định của tòa;

b) Người bị phá sản và chưa phục hồi;

c) Người đã bị kết án phạt tù hoặc hình phạt nặng hơn, nếu chưa hết hai năm kể từ ngày hoàn tất việc thi hành bản án đó hoặc kể từ ngày ngừng thi hành bản án.

d) Người bị coi là không đáp ứng được hoặc tạm thời không đáp ứng được các điều kiện theo quyết định của tòa án hoặc luật khác

     Điều 19. Ban thư ký

1. Ban thư ký được thành lập nhằm mục đích tiến hành các hoạt động của Hội chữ thập đỏ.

2. Trong ban thư ký, có một Tổng thư ký người sẽ quản lý các hoạt động của Hội chữ thập đỏ theo chỉ đạo của Chủ tịch và là người hướng dẫn và giám sát các nhân viên cấp dưới.

3. Tổng thư ký được Chủ tịch bổ nhiệm và được Ủy ban trung ương chấp thuận.

 

Chương IV. TÀI CHÍNH

 

          Điều 20. Năm tài chính

Năm tài chính của Hội chữ thập đỏ sẽ giống như năm tài chính của Chính phủ.

          Điều 21. Việc đệ trình các kế hoạch hoạt động và các vấn đề khác

1. Hội chữ thập đỏ sẽ chuẩn bị các kế hoạch hoạt động và ngân sách cho mỗi năm tài chính, và sau khi Ủy ban điều hành thảo luận, Ủy ban Trung ương thông qua và Đại hội đồng các đại diện quốc gia phê chuẩn, các vấn đề này sẽ được đệ trình lên Bộ trưởng Y tế và Phúc lợi một tháng trước khi bắt đầu năm tài chính có liên quan. Quy định này cũng được áp dụng cho các sửa đổi liên quan. Tuy nhiên, liên quan tới các hoạt động trong đó một phần hoặc toàn bộ chi phí làm việc (kể gồm cả quỹ do chính phủ quản lý) được tài trợ bởi các khoản trợ cấp của chính phủ, hoặc các khoản vay ngân hàng, các kế hoạch của các hoạt động liên quan sẽ phê duyệt của các Bộ trưởng có thẩm quyền.

2. Hội chữ thập đỏ sẽ chuẩn bị bản báo cáo thu và chi của mình trong vòng 3 tháng sau khi năm ngân sách bắt đầu và sau khi được Ủy ban điều hành thảo luận và được Ủy ban Trung ương thông qua, báo cáo này được sẽ đệ trình Bộ trưởng Y tế và Phúc lợi và Đại hội đồng.

          Điều 22. Các nguồn tài chính cho hoạt động

Mọi chi phí quản lý và hoạt động của Hội chữ thập đỏ được thu từ hội phí, các khoản trợ cấp của nhà nước và chính quyền địa phương, các khoản thu có được từ các hoạt động kinh doanh sinh lợi và các khoản thu khác.

          Điều 22 (2). Sử dụng tài sản cơ bản và các tài sản khác

Liên quan đến các kế hoạch thực hiện việc bán, tặng, trao đổi hoặc cho vay các tài sản cơ bản của Hội như được quy định trong Điều lệ hợp nhất hoặc khi Hội Chữ thập đỏ dự định sử dụng chúng làm các khoản bảo đảm, thì trước khi thực hiện kế hoạch, Hội sẽ phải xin chấp thuận của Bộ Y tế và Phúc lợi.

          Điều 23. Cho mượn tạm thời các tài sản quốc gia hoặc công cộng

          1. Trong trường hợp cần thiết để đạt được mục đích của hoạt động chữ thập đỏ, nhà nước hoặc các chính quyền địa phương có thể cho mượn tạm thời các tài sản quốc gia hoặc công cộng, không cần tính đến các quy định của Luật tài sản quốc gia và Luật về ngân sách địa phương

2. Chính quyền địa phương có thể cho Hội chữ thập đỏ mượn tạm thời các tài sản của mình theo Khoản 1 chỉ trong trường hợp Hội Chữ thập đỏ được coi là thực hiện một hoạt động cho chính quyền địa phương được chính quyền địa phương giao phó.

 

CHƯƠNG V. CÁC QUY ĐỊNH BỔ SUNG

 

          Điều 24. Các hoạt động kinh doanh sinh lợi

          Hội chữ thập đỏ có thể tham gia vào các hoạt động sinh lợi dưới đây:

1. Quản lý các bệnh viện của Hội Chữ thập đỏ

2. Các khóa đào tạo của Hội Chữ thập đỏ, quan hệ công chúng, và hoạt động xuất bản

3. Các hoạt động cho thuê tài sản của Hội chữ thập đỏ

4. Các hoạt động khác được quy định trong Điều lệ hợp nhất mà tính chất của các hoạt động này không ảnh hưởng đến việc thực hiện các hoạt động theo Điều 7.

          Điều 25. Nghiêm cấm việc lạm dụng biểu tượng chữ thập đỏ

Không một tổ chức hay cá nhân nào trừ Hội chữ thập đỏ được sử dụng biểu tượng chữ thập đỏ trên nền trắng hoặc các biểu tượng tương tự vào hoạt động kinh doanh hoặc tuyên truyền.

          Điều 26. Nghiêm cấm việc lạm dụng các Danh nghĩa tương tự

Không một tổ chức hoặc cá nhân nào trừ Hội chữ thập đỏ có thể sử dụng danh nghĩa Chữ thập đỏ, Chữ thập đỏ Giơ-ne-vơ hoặc các danh nghĩa tương tự.

          Điều 27. Giám sát

1. Bộ trưởng Y tế và Phúc lợi có thể tiến hành các hoạt động giám sát cần thiết để hoàn thành các mục đích của hoạt động chữ thập đỏ.

2. Bộ trưởng Y tế và Phúc lợi có quyền yêu cầu Hội chữ thập đỏ hoặc các cơ quan quyết định chính sách của Hội bồi thường cho bất cứ hoạt động hoặc quy định nào của Hội chữ thập đỏi mà Bộ Y tế và Phúc lợi cho là bất hợp pháp hoặc rõ ràng sai trái.

 

 

CHƯƠNG VI. CÁC QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM

 

          Điều 28. Phạt tiền

         Bất cứ người nào vi phạm Điều 25 sẽ bị xử phạt một khoản tiền không quá một triệu Won.

          Điều 29. Phạt tiền không mang tính hình sự

1. Bất kể người nào vi phạm Điều 26 sẽ bị xử phạt không mang tính hình sự một khoản tiền không quá năm trăm nghìn Won.

2. Việc phạt tiền không mang tính hình sự theo Khoản 1 sẽ được Bộ Y tế và Phúc lợi áp dụng và thu theo Sắc lệnh của Tổng thống.

3. Bất kể người nào muốn khiếu nại việc áp dụng hình phạt tiền không mang tính hình sự theo Khoản 2 có thể gửi khiếu nại tới Bộ Y tế và Phúc lợi trong vòng 30 ngày từ ngày nhận được thông báo về việc xử phạt.

4. Nếu một người chịu sự xử phạt không mang tính hình sự theo Khoản 2 và tiến hành khiếu nại theo Khoản 3, Bộ trưởng Y tế và Phúc lợi sẽ thông báo ngay cho một Tòa án có thẩm quyền và Tòa án này sẽ xem xét về mức phạt không mang tính hình sự theo Luật Thủ tục Phi tố tụng.

          5. Nếu một người không phản đối trong thời hạn được quy định tại Khoản 3 và không nộp phạt khoản phạt không mang tính hình sự, mức phạt sẽ được thu theo thủ tục nộp chậm thuế quốc gia.

BỔ SUNG

          Điều 1. Ngày có hiệu lực

          Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/1988

          Điều 2. Các biện pháp quá độ liên quan đến Điều lệ

Các quy định nội bộ của Hội chữ thập đỏ vào thời điểm thi hành luật này sẽ được coi là Điều lệ được đề cập tại khoản 1 Điều 5. Tuy nhiên, Hội chữ thập đỏ sẽ chuẩn bị Điều lệ phù hợp với khoản 1, Điều 5 và sẽ thông qua tại Cuộc họp Ủy ban trung ương phù hợp với Điều 15 của Luật hợp nhất Hội Chữ thập đỏ Đại Hàn Dân quốc trước đây trong vòng 6 tháng kể từ ngày thi hành luật này và sau đó sẽ phải xin phê duyệt Bộ Y tế và Phúc lợi.

          Điều 3. Biện pháp tạm thời liên quan đến Đại hội đồng các đại diện quốc gia. Một Đại hội đồng các đại diện quốc gia theo Điều 10 sẽ được thành lập trong vòng 3 tháng kể từ ngày phê chuẩn Điều lệ theo Điều 2 của phần Bổ sung này.

          Điều 4. Các biện pháp tạm thời liên quan đến Ủy ban Trung ương

1. Ủy ban trung ương theo Điều 11 sẽ được thành lập trong vòng 3 tháng kể từ ngày thành lập Đại hội đồng các đại diện quốc gia phù hợp với Điều 3 của phần Bổ sung này.

2. Ủy ban trung ương hiện thời sẽ được coi là Ủy ban trung ương theo Luật này cho đến khi nó được thành lập theo Khoản 1 nêu trên.

3. Các thành viên hiện thời của Ủy ban trung ương vào thời điểm thi hành luật này sẽ được coi là thành viên của Ủy ban trung ương theo Luật này và nhiệm kỳ của họ sẽ bao gồm cả thời hạn đã phục vụ trước đó.

4. Bảy thành viên của Ủy ban trung ương cần được bầu mới theo điểm a, khoản 2, Điều 11, Khoản 2 sẽ do Đại hội đồng các đại diện quốc gia bầu theo phương thức là sẽ có 3 người có nhiệm kỳ 3 năm, 2 người có nhiệm kỳ 2 năm và 2 người còn lại có nhiệm kỳ 1 năm, không tính đến Điều 11, khoản 3.

          Điều 5. Các biện pháp tạm thời liên quan đến Ủy ban điều hành

1. Ủy ban điều hành theo Điều 12 sẽ được thành lập trong vòng 1 tháng kể từ ngày thành lập Ủy ban trung ương theo Luật này phù hợp với khoản a, Điều 4 của phần Bổ sung này.

2. Ủy ban điều hành hiện thời sẽ được coi là Ủy ban điều hành theo luật này cho đến khi thành lập Ủy ban chỉ đạo theo khoản 1 nêu trên.

          Điều 6. Các biện pháp tạm thời liên quan đến các cán bộ lãnh đạo, cố vấn

1. Vào ngày Luật này có hiệu lực, Chủ tịch sẽ được coi là đã được bầu và chấp thuận phù hợp với khoản 3, Điều 15 và thời gian phục vụ trong nhiệm kỳ trước sẽ được tính vào nhiệm kỳ của Chủ tịch.

2. Vào ngày Luật này có hiệu lực, các Phó Chủ tịch và người giám sát tài chính của Hội chữ thập đỏ sẽ được coi là đã được bầu phù hợp với khoản 3, Điều 15 và thời gian phục vụ trong nhiệm kỳ trước sẽ được tính vào nhiệm kỳ của những người này, với điều kiện Điều 16 sẽ được áp dụng.

3. Một Phó Chủ tịch cần được bầu mới theo khoản 1, Điều 15 sẽ được bầu trong vòng 1 tháng kể từ ngày thiết lập Ủy ban Trung ương theo Luật này phù hợp với khoản 1, Điều 4 của phần Bổ sung này.

4. Vào ngày Luật này có hiệu lực, cố vấn pháp lý của Hội chữ thập đỏ sẽ được coi là cố vấn được bầu theo khoản 3, Điều 15 và thời gian đã phục vụ trong nhiệm kỳ trước sẽ được tính vào nhiệm kỳ của cố vấn pháp lý, với điều kiện Điều 16 sẽ được áp dụng.

          Điều 7. Các biện pháp tạm thời liên quan tới năm ngân sách

          Không tính đến Điều 20, năm ngân sách 1987 của Hội chữ thập đỏ sẽ kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 1988 và năm ngân sách 1988 của Hội chữ thập đỏ sẽ bắt đầu từ ngày 01 tháng 4 năm 1988 và kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 1988.

 

BỔ SUNG

          Điều 1. Ngày hiệu lực

1. Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 27 tháng 12 năm 1990 (Điều khoản bị bỏ).

2. Các Điều từ 2 đến 10 bị bỏ.

BỔ SUNG

Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 07 tháng 01 năm 1994. Tuy nhiên, các sửa đổi liên quan đến các điểm 3 và 4 của khoản 2, Điều 10 và liên quan đến khoản 2, Điều 12 sẽ lần lượt có hiệu lực vào các ngày 01 tháng 8 năm 1996 và ngày 01 tháng 4 năm 1994.

BỔ SUNG

Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 20 tháng 12 năm 1994.

BỔ SUNG

          Điều 1. Ngày có hiệu lực

          Luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 1999

          Điều 2. Các biện pháp tạm thời liên quan đến Đại hội đồng các đại diện quốc gia và Ủy ban Trung ương

          Đại hội đồng các đại diện quốc gia hiện thời và các thành viên Ủy ban trung ương vào thời điểm thi hành luật này sẽ được coi là các đại diện hoặc các thành viên của các chi hội hoặc ủy ban của họ theo khoản 3, Điều 10 và khoản 3, Điều 11, có hiệu lực trước luật này và không kể các sửa đổi tiếp theo. Nhiệm kỳ của họ bao gồm cả thời gian phục vụ cho nhiệm kỳ trước.

 

 

 


LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỘI CHỮ THẬP ĐỎ NHẬT BẢN

(LUẬT QUỐC GIA)

Ban hành ngày 14/8/1952 (Luật số 305) và sửa đổi ngày 19/8/1953 (Luật số 240)

 

CHƯƠNG I. CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG

 

Điều 1. Mục tiêu

Mục tiêu của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản là hoàn thành những sứ mệnh nhân đạo, những sứ mệnh là lý tưởng của Chữ thập đỏ, theo tinh thần của các Công ước về Chữ thập đỏ và các nguyên tắc đã được Các Hội nghị nghị quốc tế của Chữ thập đỏ thông qua.

Điều 2. Tính quốc tế

Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ duy trì hòa hợp với các tổ chức quốc tế Chữ thẩp đỏ cũng như các Hội chữ thập đỏ quốc gia, hợp tác với các tổ chức và hội này để phát triển các hoạt động Chữ thập đỏ quốc tế và nỗ lực đóng góp vào hòa bình của thế giới và sự hạnh phúc của nhân loại.

Điều 3. Tôn trọng quy chế tự chủ

Xét đến các đặc điểm của Hội, quy chế tự chủ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ được tôn trọng.

Điều 4. Tư cách pháp lý và Tổ chức

1. Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ là một pháp nhân.

2. Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ bao gồm các thành viên.

Điều 5. Biểu tượng

Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ sử dụng hình chữ thập đỏ trên nền trắng làm biểu tượng của mình.

Điều 6. Trụ sở chính

Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ có trụ sở chính tại thủ đô Tô-ky-ô.

Điều 7. Điều lệ

1. Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản quy định trong điều lệ của mình các vấn đề sau:

a) Mục đích;

b) Tên;

c) Địa điểm văn phòng;

d) Các vấn đề liên quan đến các thành viên;

e) Các vấn đề liên quan đến các quan chức, ban giám đốc, đại diện và ban đại diện;

f) Các vấn đề liên quan đến các hoạt động và việc thực hiện các hoạt động;

g) Các vấn đề liên quan đến tài sản và tài chính;

h) Cách thức đưa thông báo công khai.

2. Điều lệ có thể được sửa đổi nếu được Bộ trưởng Phúc lợi thông qua.

Điều 8. Đăng ký

1. Nhưng thay đổi liên quan đến trụ sở chính cũng như những vấn đề khác của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản được quy định trong nghị định của Nội các sẽ được đăng ký theo thủ tục được quy định trong nghị định của Nội các.

2. Những vấn đề cần đăng ký theo khoản trên sẽ không làm ảnh hưởng đến bên thứ ba, trừ khi những vấn đề này đã được đăng ký.

Điều 9. Giải thể

Nếu và khi có lý do nào đó dẫn đến việc giải thể Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, những vấn đề liên quan đến việc giải thể này sẽ được quy định riêng bằng luật.

Điều 10. Việc áp dụng Bộ luật Dân sự

Các quy định của Điều 44 (Năng lực chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân) và Điều 50 (Trụ sở của Pháp nhân) trong Bộ luật Dân sự (Luật số 89 năm 1896) sẽ áp dụng đối với Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản với những sửa đổi cần thiết. Trong những trường hợp này, giám đốc và các nhân viên trong Điều 44 của Bộ luật Dân sự sẽ có nghĩa là Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các nhân viên, thành viên và các giám đốc sẽ có nghĩa là thành viên của Ban Đại diện, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch hoặc các thành viên của Ban Giám đốc.

 

CHƯƠNG II. QUY CHẾ THÀNH VIÊN

 

Điều 11. Đối xử công bằng đối với các thành viên

Sẽ không có ai bị phân biệt đối xử vì lý do chủng tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc xã hội hay nguồn gốc khi trở thành thành viên cũng như trong các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên.

Điều 12. Gia nhập quy chế thành viên

Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ không từ chối một ai gia nhập làm thành viên nếu không có lý do chính đáng.

Điều 13. Rút khỏi quy chế thành viên

1. Một thành viên có thể rút khỏi quy chế thành viên vào bất kỳ lúc nào.

2. Một thành viên mất quy chế thành viên vì những lý do sau:

a) chết;

b) khi số tiền phí thành viên chưa nộp đạt mức quy định trong Điều lệ;

c) bị khai trừ.

3. Việc khai trừ nêu trong điểm 3 khoản trên có thể được thực hiện đối với thành viên nằm trong những trường hợp bị khai trừ quy định trong Điều lệ và sau khi được Ban Đại diện ra quyết định theo Điều lệ.

4. Việc khai trừ sẽ không có giá trị để đối với người bị khai trừ nếu Hội không thông báo cho người đó về việc này.

Điều 14. Quyền của các thành viên

1. Các thành viên sẽ có các quyền sau:

a) Lựa chọn và được lựa chọn làm quan chức và các thành viên của Ban Đại diện của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản theo thủ tục được quy định trong luật này;

b) Nhận các báo cáo về hoạt động và về thu chi của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản theo từng năm tài chính;

c) Bày tỏ ý kiến của mình đối với Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản thông qua các thành viên của Ban Đại diện về việc quản lý các hoạt động.

2. Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản có thể thanh thế các báo cáo nêu trong điểm 2 khoản trên bằng các thông báo công khai.

Điều 15. Phí thành viên

Các thành viên sẽ trả phí thành viên theo đúng quy định của Điều lệ.

 

CHƯƠNG III. QUẢN LÝ

 

Điều 16. Các quan chức

Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ có các quan chức của mình gồm một chủ tịch, nhiều nhất là hai phó chủ tịch, tối đa là 61 giám đóc và không quá 3 kiểm toán viên.

Điều 17. Các trách nhiệm và thẩm quyền của các quan chức

1. Chủ tịch sẽ đại diện cho Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản và chỉ đạo các hoạt động của Hội.

2. Theo quy định trong Điều lệ, các Phó Chủ tịch sẽ giúp Chủ tịch trong việc quản lý các hoạt động của Hội, thay mặt Chủ tịch khi Chủ tịch vắng mặt và thực hiện chức năng của Chủ tịch khi vị trí này bị trống.

3. Theo quy định của Điều lệ, các thành viên của Ban Giám đốc sẽ đại diện cho Hội, giúp Chủ tịch và các Phó Chủ tịch trong việc quản lý các hoạt động của Hội, thay mặt cho Chủ tịch và các Phó Chủ tịch khi họ vắng mặt và thực hiện chức năng của Chủ tịch và Phó Chủ tịch khi các vị trí này bị trống.

4. Các kiểm toán viên sẽ kiểm toán các hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản.

Điều 18. Việc bổ nhiệm các quan chức

Các quan chức sẽ được Ban Đại diện bổ nhiệm từ các thành viên.

Điều 19. Nhiệm kỳ của các quan chức

Nhiệm kỳ của cá quan chức sẽ là ba năm.

Điều 20. Ban Giám đốc

1. Ban Giám đốc sẽ gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các giám đốc.

2. Ban Giám đốc sẽ thảo luận về việc thực hiện các hoạt động quan trọng của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản theo quy định của Điều lệ.

Điều 21. Ban Đại diện

1. Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ có một Ban Đại diện.

2. Ban Đại diện sẽ bao gồm các thành viên của Ban được lựa chọn từ các thành viên của Hội theo quy định của Điều lệ.

3. Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ triệu tập họp Ban Đại diện ít nhất một lần mỗi năm theo quy định của Điều lệ.

Điều 22. Những vấn đề do Ban Đại diện quyết định

Với điều kiện là những vấn đề mà Ban Đại diện coi là nhỏ sẽ được loại ra, những vấn đề sau sẽ do Ban Đại diện quyết định:

1. Ngân sách thu chi;

2. Lên kế hoạch hoạt động;

3. Thông qua việc việc quyết toán;

4. Sửa đổi Điều lệ;

5. Những vấn đề khác quy định trong Điều lệ.

Điều 23. Nhiệm kỳ của các đại diện

Nhiệm kỳ của các thành viên trong Ban Đại diện sẽ là ba năm với điều kiện là một thành viên bổ sung cho một vị trí bị khuyết sẽ có nhiệm kỳ bằng khoảng thời gian còn lại trong nhiệm kỳ của người tiền nhiệm.

Điều 24. Việc thôi chức vụ của quan chức

Ban Đại diện có thể cho một quan chức thôi chức vụ của mình khi họ cho rằng quan chức đó không còn thích hợp với nhiệm vụ do thể trạng hoặc tinh thần không tốt, hoặc do quan chức đó hành động trái với nhiệm vụ của mình hay có hành vi không đúng với địa vị của một quan chức.

Điều 25. Năm tài chính

Năm tài chính của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ được tính từ ngày đầu tiên của tháng Tư một năm đến ngày cuối cùng của tháng Ba năm sau.

Điều 26. Việc áp dụng Bộ luật Dân sự với những sửa đổi cần thiết thích hợp

Các quy định của Điều 54 (Hạn chế về quyền của Đại diện), Điều 56 (Giám đốc tạm thời) và Điều 56 (Đại diện đặc biệt) của Bộ luật Dân sự sẽ được áp dụng đối với Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản với những sửa đổi cần thiết. Trong các trường hợp này, các giám đốc trong Điều 54 có nghĩa là các Phó Chủ tịch hay thành viên của Ban Giám đốc; các giám đốc trong Điều 56 có nghĩa là Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên của Ban Giám đốc; “Theo yêu cầu của một bên liên quan hay của công tố viên, một tòa sẽ có nghĩa là Theo yêu cầu của một bên liên quan hay một quan chức, Bộ trưởng Phúc lợi sẽ; các giám đốc trong Điều 57 có nghĩa là Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các thành viên của Ban Giám đốc và trong trường hợp này, theo quy định của điều trên, Đại diện đặc biệt sẽ được chọn có nghĩa là trong trường hợp này, kiểm toán viên sẽ đại diện cho pháp nhân.

 

CHƯƠNG IV. CÁC HOẠT ĐỘNG

 

Điều 27. Các hoạt động

1. Nhằm đạt được những mục tiêu nêu tại Điều I, Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ thực hiện các hoạt động sau:

- Tham gia vào các hoạt động quy định bởi các Công ước về Chữ thập đỏ;

- Cứu trợ những người ốm, bị thương và các thương tổn khác trong trường hợp khẩn cấp cũng như trong những thời gian có dịch bệnh lây lan;

- Luôn luôn tham gia và và việc tăng cường sức khỏe, phòng bệnh, giảm nhẹ những đau khổ của người dân và những công việc cần thiết khác để phục vụ xã hội;

- Những hoạt động cần thiết cho việc hoàn thành những mục tiêu nêu tại Điều 1, ngoài những hoạt động được nêu trong 3 điểm trên đây.

2. Những hoạt động nêu trong điểm thứ nhất và thứ hai của khoản trên sẽ bao gồm cả những hoạt động được tiến hành do sự ủy thác của Nhà nước, phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 33.

 

 

Điều 28. Duy trì đội ngũ nhân viên cứu trợ

Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ luôn duy trì đội ngũ nhân viên (sau đây gọi là nhân viên cứu trợ) cần thiết để tham gia vào các hoạt động (sau đây gọi là các hoạt động cứu trợ) nêu trong điểm 1 và 2 của khoản 1 Điều trên.

Điều 29. Đào tạo Nhân viên cứu trợ

1. Nếu cần thiết, Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ đào tạo các bác sỹ, y tá và các chuyên gia kỹ thuật nhằm duy trì đội ngũ nhân viên cứu trợ như quy định tại Điều 28.

2. Công việc đào tạo nêu tại khoản trên sẽ được dành cho những người hiểu sâu sắc về mục đích của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, đặc biệt về các hoạt động cứu trợ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, do Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản chịu các chi phí như học phí và các loại chi phí khác.

3. Những người được đào tạo theo hai khoản trên sẽ nỗ lực để chấp nhận yêu cầu của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản khi Hội nhận thấy rằng Hội không thể thực hiện những hoạt động cứu trợ mà những người này không tham gia làm nhân viên cứu trợ và Hội yêu cầu họ tham gia vào các hoạt động cứu trợ này.

Điều 30. Sự hợp tác từ những người sử dụng lao động

1. Nếu những người sử dụng lao động dự định thuê hoặc đang thuê người người đã được đào tạo theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều trên, người sử dụng lao động sẽ không được đối xử với những người này kém thuận lợi vì họ có thể sẽ tham gia, hoặc đã tham gia, vào các hoạt động cứu trợ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản với tư cách là nhân viên cứu trợ.

2. Nếu những người được đào tạo theo quy định tại Khoản 1 và 2 Điều trên sẽ thực hiện nhiệm vụ quy định tại Khoản 3 Điều trên với tư cách là những nhân viên cứu trợ cho các hoạt động cứu trựo của của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, người sử dụng lao động sẽ hợp tác với họ.

Điều 31. Bồi hoàn chi phí

Trong trường hợp nhân viên cứu trợ tham gia vào các hoạt động cứu trợ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, Hội sẽ chịu các chi phí thực tế của nhân viên cứu trợ.

Điều 32. Trợ cấp

Nếu nhân viên cứu trợ tham gia vào các hoạt động cứu trợ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản bị thương hoặc ốm hoặc chết do những hoạt động này, Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ trả cho họ tiền trợ cấp theo cách thức tương tự như quy định về trợ cấp đối với những người tham gia vào các hoạt động cứu trợ quy định tại Điều 24 (Nghị định về việc tham gia) của Luật Cứu trợ thiên tai (Luật số 118 năm 1947).

 

 

Điều 33. Ủy thác Công tác cứu trợ nhà nước

1. Nhà nước có thể ủy thác cho Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản những nhiệm vụ của Nhà nước trên cơ sở các Công ước về Chữ thập đỏ và những nhiệm vụ liên quan đến hoạt động cứu trợ thuộc trách nhiệm của Chính phủ trong trường hợp khẩn cấp.

2. Trong trường hợp nêu tại khoản trên, Nhà nước có thể ra lệnh trước cho Hội chữ thập đỏ Nhật Bản để thiết lập hoặc điều chỉnh cơ sở và trang thiết bị cần thiết cho việc thực hiện những nhiệm vụ đã ủy thác theo quy định của chính khoản trên.

3. Nhà nước sẽ bù lại những chi phí phát sinh khi Hội chữ thập đỏ Nhật Bản thực hiện những nhiệm vụ được ủy thác theo quy định tại khoản 1, với điều kiện là nếu luật khác có quy định khác về việc này thì quy định đó sẽ được áp dụng.

4. Nhà nước sẽ bồi hoàn, toàn bộ hoặc một phần, những chi phí cần thiết cho Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản thiết lập hoặc điều chỉnh cơ sở và trang thiết bị nhằm thực hiện những nhiệm vụ ủy thác theo các quy định của khoản 1.

Điều 34. Cung cấp dịch vụ giao thông vận tải và viễn thông

1. Hãng đường sắt quốc gia Nhật Bản hoặc những người hoạt động trong lĩnh vực giao thông vận tải sẽ cung cấp cho Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản những dịch vụ đặc biệt về vận chuyển nhân viên cứu trợ hoặc đồ cứu trợ để Hội có thể thực hiện những hoạt động cứu trợ nhanh chóng và phù hợp.

2. Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Tập đoàn Điện thoại và điện tín Nhật Bản, Công ty Kokusai Denshin Denwa (KDD)[4], Công ty Nippon Hoso Kyokai (NHK)[5] hoặc những công ty hoạt động trong lĩnh vực truyền thông sẽ cung cấp cho Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản những dịch vụ đặc biệt về viễn thông của hoạt động cứu trợ để Hội có thể thực hiện những hoạt động cứu trợ nhanh chóng và phù hợp.

Điều 35. Quản lý các dịch vụ phúc lợi xã hội

1. Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ hoạt động trong phạm vi các dịch vụ phúc lợi xã hội của Nhóm thứ nhất và thứ 2 như được định nghĩa tại Luật Dịch vụ phúc lợi xã hội (Luật số 45 năm 1951).

2. Nếu Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản hoạt động trong phạm vi các dịch vụ phúc lợi xã hội theo quy định của khoản trên, Hội chữ thập đỏ Nhật Bản sẽ được xem là một pháp nhân hoạt động phúc lợi xã hội nhằm áp dụng những quy định của Chương 7 (Các dịch vụ phúc lợi xã hội) của Luật dịch vụ phúc lợi xã hội và những quy định về xử phạt của Luật này cũng như của Luật về Hội có mục đích phát triển các dịch vụ phúc lợi xã hội (Luật số 240 năm 1953).

 

 

CHƯƠNG V. GIÁM SÁT VÀ HỖ TRỢ

 

Điều 36. Báo cáo và thanh tra

1. Nếu nhận thấy cần bảo đảm Hội chữ thập đỏ Nhật Bản tuân thủ pháp luật, các chỉ thị của cơ quan hành chính được đưa ra phù hợp với pháp luật, hay Điều lệ của Hội, Bộ trưởng Phúc lợi có thể yêu cầu Hội chữ thập đỏ Nhật Bản đệ trình báo cáo về tình hình hoạt động hay tài sản của Hội, hoặc có thể cho phép nhân viên của mình đến văn phòng hay địa điểm khác của Hội chữ thập đỏ Nhật Bản để thanh tra tình hình hoạt động hay tài sản, hoặc sổ kế toán, các tài liệu và những đối tượng khác.

2. Nhân viên thanh tra quy định tại khoản trên đây sẽ mang thẻ chứng minh nếu người này tiến hành thanh tra thực địa cũng theo các quy định tại khoản trên và phải xuất trình thẻ cho những người liên quan khi họ có yêu cầu.

3. Thẩm quyền được tiếp cận và thanh tra như quy định tại khoản trên đây sẽ không được giải thích như là việc cho phép tiến hành điều tra hình sự.

Điều 37. Giám sát và xử phạt

Nếu Hội chữ thập đỏ Nhật Bản vi phạm pháp luật, các của cơ quan hành chính được đưa ra phù hợp với pháp luật, hoặc Điều lệ của Hội, Bộ trưởng Phúc lợi có thể lệnh cho Hội chữ thập đỏ Nhật Bản thực hiện những biện pháp cần thiết.

Điều 38. Yêu cầu sa thải

Nếu một quan chức của Hội chữ thập đỏ Nhật Bản vi phạm pháp luật, chỉ thị của cơ quan hành chính được đưa ra theo pháp luật, hoặc Điều lệ của Hội, trong việc quản lý hành chính những hoạt động của Hội hoặc có những hành vi phương hại nghiêm trọng lợi ích công cộng, Bộ trưởng Phúc lợi có thể đưa yêu cầu cho Hội về việc đưa quan chức này khỏi vị trí hiện tại.

Điều 39. Hỗ trợ

1. Khi Hội chữ thập đỏ Nhật Bản thiết lập hoặc điều chỉnh những cơ sở và trang thiết bị cần thiết cho việc thực hiện những hoạt động của Hội và nếu xét thấy cần thiết, các cơ quan nhà nước hoặc địa phương có thể trợ cấp hoặc cho vay, chuyển giao hoặc cho Hội mượn những tài sản khác theo những điều kiện thuận lợi hơn bình thường. Tuy nhiên, quy định này không ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định của Luật Tài sản quốc gia (Luật số 73 năm 1948), khoản 1 Điều 8 (Kiểm soát và Hủy tài sản) của Luật tài chính địa phương (Luật số 109 năm 1948) và Điều 26 (Quan hệ với Nhà nước và cơ quan địa phương) của Luật thư viện liên quan đến việc trợ cấp cho hoạt động của thư viện tư nhân (Luật số 118 năm 1950).

2. Nhà nước hoặc chính quyền địa phương có thể yêu cầu Hội trả lại, toàn bộ hoặc một phần, trợ cấp đã nhận, các khoản vay hay những tài sản khác đã chuyển giao hay cho mượn theo quy định của các khoản trên, nếu Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản thực hiện những hành vi theo các điểm dưới đây:

(1) khi Hội sử dụng, toàn bộ hoặc 1 phần, cơ sở vật chất và trang thiết bị cho những mục đích khác;

(2) khi Hội vi phạm những điều kiện để được hỗ trợ.

 

CHƯƠNG VI. XỬ PHẠT

 

Điều 40. Nếu một quan chức hay nhân viên của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản không đệ trình báo cáo như quy định tại khoản 1 Điều 36, hoặc đệ trình báo cáo sai; hay từ chối, cản trở hoặc lẩn tránh việc thanh tra theo quy định tại Điều 36, người này sẽ bị phạt một khoản tiền không quá 10.000 Yên.

Điều 41. Khi một quan chức của Hội chữ thập đỏ Nhật Bản bất cẩn trong việc đăng ký theo quy định trong một nghị định của Nội các được đưa ra theo pháp luật, hoặc làm đăng ký giả, người này sẽ bị tuyên phạt một khoản tiền không quá 10000 yên.

 

 


VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA

QUỐC GIA-TÔN GIÁO-NHÀ VUA

 

REACH KRET VỀ VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ BIỂU TƯỢNG

CHỮ THẬP ĐỎ VÀ TRĂNG LƯỠI LIỀM ĐỎ

 

          Chúng tôi, Preah Bat Samdech Norodom Sihanouk, Nhà vua của Vương quốc Campuchia,

          - Căn cứ vào Hiến Pháp của Vương quốc Campuchia;

          - Căn cứ vào Reach Kret số NS/RKT/1198/72, ngày 30/11/1998 về việc bổ nhiệm chính phủ của Vương quốc Campuchia;

          - Căn cứ vào Reach Kham số 02/NS/94, ngày 20/ 7/1994, ban hành Đạo luật về Tổ chức và chức năng của Hội đồng thủ tướng;

          - Căn cứ vào Reach Kret số 378/NS, ngày 16/6/1958 về việc công nhận Hội Chữ thập đỏ Campuchia;

          - Căn cứ vào điều 26 Công ước Geneva lần thứ nhất vào ngày 12 tháng 8 năm 1949, và các nghĩa vụ kèm theo đối với Vương quốc Cămpuchia, và các Nghị định thư bổ sung vào 8/6/1977, bao gồm Mục I Nghị định thư I có các quy định về việc nhận dạng đơn vị và phương tiện vận tải y tế;

          - Căn cứ vào’'Các quy định về việc sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ của các Hội Quốc gia'', được Hội nghị quốc tế lần thứ 20 thông qua (Vienna, 1965), và các sửa đổi sau đó;

          - Chiểu theo đề xuất của Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Hoàng gia Campuchia,

 

QUY ĐỊNH

PHẦN 1. CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG

 

          Điều 1. Pháp lệnh Hoàng gia hiện hành điều chỉnh việc sử đụng và bảo vệ biểu Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ trên nền trắng và các dấu hiệu khác nhằm nhận dạng các đơn vị và phương tiện vận tải y tế trong Vương quốc Cămpuchia.

          Điều 2. Trong trường hợp có xung đột vũ trang, biểu tượng được sử dụng cho mục đích bảo vệ là dấu hiệu bảo vệ có thể nhận thấy được quy định trong các Công ước Geneva và Nghị định thư bổ sung về nhân viên y tế, các đơn vị và các phương tiện vận tải y tế. Do đó, kích thước của biểu tượng càng nhỏ càng tốt. Biểu tượng được sử dụng cho mục đích chỉ định cho thấy người hay vật có liên quan đến một tổ chức Chữ thập đỏ hoặc Trăng lưỡi liềm đỏ. Biểu tượng có kích thước nhỏ.

 

PHẦN II. MỤC ĐÍCH BẢO VỆ CỦA BIỂU TƯỢNG

 

          Điều 3. Dưới sự giám sát của Bộ Quốc phòng, Ngành Y tế của của lực lượng vũ trang Campuchia sẽ sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ, không trong cả thời gian hoà bình cũng như trong thời gian có xung đột vũ trang, để đánh dấu nhân viên y tế, các đơn vị và phương tiện y tế trên bộ, trên biển và trên không. Nhân viên y tế của lực lượng vũ trang sẽ đeo băng tay và mang thẻ chứng minh có thể hiện biểu tượng. Bộ Quốc phòng sẽ phát hành những băng tay và thẻ chứng minh này. Nhân viên theo đạo thuộc lực lượng vũ trang cũng sẽ được bảo vệ như nhân viên y tế và được nhận dạng theo cách tương tự.

          Điều 4. Với việc uỷ quyền bằng văn bản hoả tốc và dưới sự giám sát của Bộ Y tế, nhân viên y tế dân sự, các bệnh viện và đơn vị y tế dân sự, cũng như là các phương tiện vận tải y tế dân sự, được giao nhiệm vụ chuyên chở và chữa trị người bị thương, ốm và bị đắm tàu, sẽ được đánh dấu biểu tượng vời mục đích bảo vệ trong thời gian có xung đột vũ trang. Nhân viên y tế dân sự sẽ đeo băng tay và mang thẻ chứng minh có thể hiện biểu tượng. Những băng tay và thẻ chứng minh thư này sẽ do Bộ Y tế phát hành. Nhân viên tôn giáo dân sự trong các bệnh viện và các đơn vị y tế khác lợi nhận dạng theo cách tương tự.

        Điều 5. Hội Chữ thập đỏ Cămpuchia được uỷ quyền để giao cho Ngành Y tế Lực lượng vũ trang toàn quyền sử dụng nhan viên y tế, các đơn vị và phương tiện vận tải y tế. Những nhân viên, đơn vị và phương tiện vận tải này sẽ phải phụ thuộc vào luật và các quy định quân sự và có thể sẽ được Bộ Quốc phòng uỷ quyền để thể hiện biểu tượng chữ thập đỏ với mục đích bảo vệ. Những nhân viên này sẽ phải đeo băng tay và mang thẻ chứng minh phù hợp với Điều 3, đoạn 2 của Pháp lệnh Hoàng gia hiện hành.

Hội Chữ thập đỏ Cămpuchia được uỷ quyền sử dụng biểu tượng với mục đích bảo vệ nhân viên y tế và các đơn vị y tế phù hợp với Điều 4 của Pháp lệnh Hoàng gia hiện hành.

 

PHẦN III. MỤC ĐÍCH CHỈ ĐỊNH CỦA BIỂU TƯỢNG

 

          Điều 6. Hội Chữ thập đỏ Cămpuchia được uỷ quyền để sử dụng biểu tượng với mục đích chỉ định nhằm chỉ rõ người hay vật có liên quan đến Hội Chữ thập đỏ Cămpuchia. Kích thước của biểu tượng nhỏ để tránh sự hiểu nhầm với biểu tượng được sử dụng với mục đích bảo vệ. Hội Chữ thập đỏ Cămpuchia sẽ áp dụng’'Các quy định về việc sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ hay Trăng lưỡi liềm đỏ của các Hội quốc gia”. Các Hội Chữ thập đỏ hay Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia khác có mặt lãnh thổ của Cămpuchia, với sự đồng ý của Hội Chữ thập đỏ Campuchia sẽ sử dụng biểu tượng theo những điều kiện tương tự.

 

PHẦN IV. CÁC TỔ CHỨC CHỮ THẬP ĐỎ

VÀ TRĂNG LƯỠI LIỀM ĐỎ QUỐC TẾ SỬ DỤNG BIỂU TƯỢNG

 

          Điều 7. Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ và Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế có thể sử dựng biểu tượng vào bất cứ thời điểm nào cho tất cả các hoạt động của mình.

 

PHẦN V. VIỆC SỬ DỤNG SAI BIỂU TƯỢNG

CHỮ THẬP ĐỎ VÀ TRĂNG LƯỠI LIỀM ĐỎ

 

          Điều 8. Chính quyền công của Cămpuchia trong bất cứ thời điểm nào phải đảm bảo sự tuân thủ một cách nghiêm khắc các quy định liên quan đến việc sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ với cái tên’'Chữ thập đỏ'' hay’' Trăng Lưỡi Liềm đỏ'' và các dấu hiệu khác. Chính quyền sẽ tiến hành giám sát nghiêm khắc những người được uỷ quyền sử dụng biểu tượng, tên và các dấu hiệu. Chính quyền sẽ tiến hành các bước phù hợp để tránh việc sử dụng sai, mà cụ thể là bằng cách tuyên truyền một cách rộng rãi các quy định đang còn tranh cãi trong lực lượng vũ trang, lực lượng cảnh sát, chính quyền công và trong quần chúng.

          Điều 9. Hội Chữ thập đỏ Cămpuchia sẽ chủ động hợp tác với các chính quyền trong nỗ lực nhằm tránh việc sử dụng sai. Hội buộc phải thông báo với chính phủ về việc sử dụng sai và tiến hành các thủ tục hành chính hay pháp lý tương ứng.

 

PHẦN VI. VIỆC ĐĂNG KÝ TỔ CHỨC, TÊN THƯƠNG MẠI

VÀ THƯƠNG HIỆU

 

          Điều 10. Việc đăng ký tổ chức và tên thương mại, và việc lưu giữ thương hiệu, các dấu hiệu thương mại và các kiểu đáng và mẫu mã công nghiệp lợi dụng biểu tượng Chữ thập đỏ hay Trăng lưỡi liềm đỏ vi phạm Pháp lệnh Hoàng gia hiện hành sẽ bị bác bỏ. Chỉ duy nhất Hội Chữ thập đỏ Cămpuchia được đăng kí sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ.

 

 

 

PHẦN VII. CÁC BIỆN PHÁP GIÁM SÁT VÀ

TRỪNG PHẠT ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG SAI

 

          Điều 11. Bất cứ ai cố ý và không có quyền sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ, tên’'Chữ thập đỏ'' hay’'Trăng lưỡi liềm đỏ'', dấu hiệu phân biệt hay bất cứ tên gọi, kiểu dáng khác giống như trên hay có thể dẫn đến sự hiểu nhầm, không coi trọng đến mục đích của việc sử dụng biểu tượng, mà cụ thể là bất cứ ai thể hiện biểu tượng hay từ ngữ trên các dấu hiệu, áp phích, thông báo, tờ rơi hay các tài liệu thương mại, hay dán chúng vào hàng hoá, kiện hàng hay đã bán hoặc đang bán hay hàng hoá đang lưu hành, sẽ bị phạt theo luật áp dụng. Nếu việc vi phạm được tiến hành trong công tác quản lý một thể chế liên hiệp (công ty thương mại, tổ chức…), thì hình phạt sẽ áp dụng cho những người vi phạm hay chỉ đạo cho hành vi vi phạm.

          Điều 12. Bất cứ ai cố ý vi phạm hoặc ra lệnh vi phạm những hành động dẫn đến hậu quả chết người hay gây ra thương tổn nghiêm trọng đến cơ thể hay sức khoẻ của đối phương bằng cách lợi dụng biểu tượng chữ thập đỏ hay trăng lưỡi liềm đỏ hay dấu hiệu phân biệt khác, đã vi phạm tội ác chiến tranh và sẽ bị phạt theo luật áp dụng. Sử dụng có tính chất lừa dối có nghĩa là kêu gọi thiện ý của đối phương, nhằm mục đích lừa gạt đối phương và khiến cho đối phương tin rằng anh ta có quyền đón nhận hay cảm thấy biết ơn để trao cho quyền được bảo vệ theo quy định của Luật nhân đạo quốc tế.

          Điều 13. Do có sự hiểu nhầm có thể phát sinh giữa Lực lượng vũ trang Thuỵ Sỹ và biểu tượng Chữ thập đỏ, việc sử dụng Chữ thập màu trắng trên nền đỏ hay bất cứ dấu hiệu khác giống như trên, đù là thương hiệu hay dấu thương mại hay một bộ phận của dấu hiệu trên, hay phục vụ cho mục đích trái với công bằng thương mại, hay trong trường hợp có thể làm tổn thương đến tinh thần dân tộc của người dân Thuỵ Sỹ, sẽ bị cấm trong bất cứ thời điểm nào; bị cáo sẽ bị phạt theo luật áp dụng. Toà án có thẩm quyền ra lệnh giữ đồ vật hay bất cứ vật liệu gì được đánh dấu vi phạm Pháp lệnh Hoàng gia hiện hành để yêu cầu xoá bỏ biểu tượng chữ thập đỏ hay trăng lưỡi liềm đỏ và tên’'Chữ Thập đỏ'' hay’'Trăng lưỡi liềm đỏ'' với cái giá phải trả của kẻ chủ mưu cho vụ vi phạm, và ra lệnh phá huỷ các công cụ được sử dụng để tái sản xuất.

 

PHẦN VIII. CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

         

          Điều 14. Tất cả các quy định trái ngược với Pháp lệnh Hoàng gia sẽ bị bác bỏ.

          Điều 15. Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Cămpuchia sẽ thi hành và tạo hiệu lực cho Pháp lệnh Hoàng gia này kể từ ngày ký kết.

Cung điện hoàng gia Phnom Penh, ngày 6/5/2002

     (Ký tên)

                                                                         Norodom Sihanouk


PHÁP LỆNH HOÀNG GIA

VỀ VIỆC CÔNG NHẬN HỘI CHỮ THẬP ĐỎ CAMPUCHIA

 

          Reach Kret về công nhận Hội chữ thập đỏ Campuchia

 

          Tôi, Preah Bat Samdech Norodom Sihanouk, Nhà vua của Vương quốc Campuchia,

-         Căn cứ vào Hiến pháp của Vương quốc Campuchia;

-         Căn cứ vào Reach Kret số NS/RKT/1198/72, ngày 30/11/1998 về việc bổ nhiệm chính phủ của Vương quốc Campuchia;

-         Căn cứ vào Reach Kranl số 02/NS/94, ngày 20/7/1994, ban hành Đạo luật về Tổ chức và chức năng của Hội đồng thủ tướng;

-         Căn cứ vào Reach Kret số 378/NS, ngày 16/6/1958 về việc công nhận Hội chữ thập đỏ Campuchia;

-         Chiểu theo đề xuất của thủ tướng Chính phủ Vương quốc Campuchia,

 

QUYẾT ĐỊNH

 

PHẦN 1. QUY ĐỊNH CHUNG

         

          Điều 1. Pháp lệnh Hoàng gia hiện hành công nhận Hội Chữ thập đỏ Campuchia như là một hội viện trợ tình nguyện, từ nay về sau được gọi là Hội Chữ thập đỏ Campuchia.

          Điều 2. Hội Chữ thập đỏ Campuchia là sự kế vị của Hội Chữ thập đỏ Campuchia thành lập ngày 18/2/1955 với mục tiêu cung cấp sự trợ giúp và hoạt động như là trợ lý cho chính quyền nhà nước trong các lĩnh vực các vấn đề nhân đạo. Hội chữ thập đỏ Campuchia được Uỷ ban quốc tế Chữ thập đỏ (ICRC) công nhận vào 7/10/1960 và được thừa nhận là một thành viên của Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi Liềm đỏ quốc tế vào 8/10/1960.

          Điều 3. Hội Chữ thập đỏ Campuchia sẽ hoạt động phù hợp với 7 nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng Lưỡi liềm đỏ quốc tế, đó là: Nhân đạo, Nhân đạo, Vô tư, Trung lập, Độc lập, tính Tự nguyện, Thống nhất và Toàn cầu.

          Điều 4. Do đó, trong thời gian có xung đột vũ trang Hội Chữ thập đỏ Campuchia được công nhận và có quyền nhận giúp đỡ về dịch vụ y tế của các Lực Lượng quân sự trong thời gian xung đột, trên cơ sở các Công ước Geneve 12/8/1949 (được Vương quốc Campuchia phê chuẩn vào ngày 08/12/1958) và Nghị định thư bổ sung 8/6/1977 (được Vương quốc Campuchia phê chuẩn vào ngày 14/01/1998).

          Điều 5. Hội Chữ thập đỏ Campuchia sẽ hoạt động trong mọi thời điểm phù hợp với Quy chế, Quy định về Thủ tục và Quy định về Tài chính được tổ chức thông qua.

          Điều 6. Hội Chữ thập đỏ Campuchia được uỷ quyền để sử dụng biểu tượng Chữ thập đỏ trên nền trắng theo Quy chế của tổ chức và phù hợp với Công ước Geneva ngày 12/8/1949, Nghị định thư bổ sung 08/6/1977, và các Quy định trong việc sử dụng biểu tượng của các Hội quốc gia được thông qua tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 20 của Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ, và các sửa đổi tiếp sau đó.

 

PHẦN 2. MỤC TIÊU

 

          Điều 7. Mục tiêu của Hội Chữ thập đỏ Campuchia là ngăn chặn và làm giảm nhẹ sự chịu đựng với sự công bằng tuyệt đối, xóa bỏ sự khác biệt về dân tộc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, giai cấp, tư tưởng chính trị hay các điều kiện khác.

          Điều 8. Nhằm thực hiện mục tiêu đã được xác định tại Điều 6 của Pháp lệnh Hoàng gia, Hội chữ thập đỏ Campuchia sẽ thực hiện chức năng của Hội phù hợp với Quy chế và Quy định của Hội, các Công ước mà Campuchia là thành viên và các Giải pháp của Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ và các tài liệu chính thức khác của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng Lưỡi liềm đỏ quốc tế.

 

PHẦN 3. PHẠM VI ÁP DỤNG

 

          Điều 9. Hội Chữ thập đỏ Campuchia là Hội quốc gia Chữ thập đỏ duy nhất ở Campuchia và tiến hành các hoạt động nhân đạo của Hội trong toàn lãnh thổ Campuchia.

          Điều 10. Hội Chữ thập đỏ Campuchia luôn luôn hoạt động phù hợp với Công ước Geneva và Các nghị định thư bổ sung, Luật của Vương quốc Campuchia và Các Nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và các tài liệu chính thức của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

          Điều 11. Chính quyền nhà nước luôn luôn tôn trọng Hội Chữ thập đỏ Campuchia phù hợp với các Nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế theo yêu cầu của Giải pháp 55 (I) của Đại hội đồng Liên hợp quốc được thông qua ngày 19/10/1946.

         Điều 12. Là một thành viên của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng Lưỡi liềm đỏ tế Hội chữ thập đỏ Campuchia có thể thực hiện bất kỳ hoạt động nào nếu thấy phù hợp với sự hợp tác và cộng tác với ủy ban quốc tế Chữ thập đỏ (ICRC), Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng Lười liềm đỏ quốc tế (Hiệp hội) và các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia khác.

 

PHẦN 4. TRÁCH NHIỆM VÀ NGHĨA VỤ

 

          Điều 13. Hội Chữ thập đỏ Campuchia sẽ tuân theo nghĩa vụ của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc viên của Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế.

          Điều 14. Hội Chữ thập đỏ Campuchia sẽ điều hành và quản lý cơ cấu được quy định và xác định trong Quy chế của Hội.

          Điều 15. Hội Chữ thập đỏ Campuchia có thể chỉnh sửa Quy chế, Quy định về thủ tục và các Quy định về Tài Chính vào bất cứ thời điểm nào tuân theo trình tự được tổ chức quy định.

 

PHẦN 5. NGÂN SÁCH, NGUỒN LỰC

 

          Điều 16. Hội Chữ thập đỏ Campuchia sẽ tự quản lý ngân sách, nguồn lực và bất nguồn lợi và quà tặng nào từ bất kỳ hoạt động và nhiệm vụ nào của Hội. Thêm vào đó, Hội Chữ thập đỏ Campuchia có thể chỉ định và quản lý bất kỳ nguồn dự trữ, bảo hiểm, xã hội hay các quỹ khác cho nhân viên hay cho bất kỳ hoạt động nào của hội.

Tất cả các quy định trái với Sắc Lệnh Hoàng gia này do đó bị hủy bỏ.

Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia sẽ thi hành và tạo hiệu lực cho Pháp lệnh Hoàng gia kể từ ngày ký kết.

 

 


 LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ TRUNG QUỐC

(Được Ban Thường trực của Đại hội Nhân dân toàn quốc lần thứ VIII thông qua tại kỳ họp lần thứ 4 ngày 31 tháng 10 năm 1993)

 

 

SẮC LỆNH CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

ĐỐI VỚI HỘI CHỮ THẬP ĐỎ TRUNG QUỐC

 

CHƯƠNG I. CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUNG

 

          Điều 1. Sắc lệnh này được ban hành để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe, phát huy chủ nghĩa nhân đạo, tăng cường các mục tiêu hòa bình và tiến bộ, cũng như đảm bảo việc thực hiện đầy đủ pháp luật của Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc đối với các nhiệm vụ của mình.

          Điều 2. Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc chỉ là một tổ chức Chữ thập đỏ tiến hành các hoạt động nhân đạo trong lĩnh vực sơ cấp cứu ban đầu và cứu trợ xã hội tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

          Điều 3. Hội thu hút mọi thành phần chấp nhận Điều lệ của Hội và đóng tiền Hội phí, không phân biệt quốc tịch, chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng tôn giáo và trình độ học vấn.

          Điều 4. Hội duy trì độc lập cho phép Hội hoạt động độc lập, phù hợp với Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phù hợp với các Nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, với các Công ước Geneva và các Nghị định thư bổ sung mà Trung Quốc là một thành viên tham gia, cũng như phù hợp với Điều lệ của Hội.

          Điều 5. Cùng với sự hỗ trợ về mặt tài chính, Chính phủ Trung Quốc sẽ đảm bảo việc thực hiện đầy đủ luật pháp của Hội đối với các nhiệm vụ của mình và giám sát các hoạt động của Hội, trong khi đó Hội sẽ giúp đỡ Chính phủ thực hiện các hoạt động phù hợp với nhiệm vụ của Hội.

          Điều 6. Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc sẽ mở rộng các mối quan hệ hợp tác và hữu nghị với các Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia, dựa trên các nguyên tắcđộc lập, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.

          Điều 7. Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc có biểu tượng Chữ thập đỏ trên nền trắng.

 

 

CHƯƠNG 2. CƠ CẤU TỔ CHỨC

 

          Điều 8. Mỗi Chi nhánh Chữ thập đỏ địa phương được thành lập theo địa danh hành chính theo cấp độ hạt và trên hạt, tuyển dụng cán bộ hành chính theo yêu cầu thực tế của công việc. Các chi nhánh cũng có thể được thành lập khi cần thiết, trên khắp các ngành công nghiệp của đất nước. Hội Chữ thập đỏ Trung quốc có một văn phòng Trung ương Hội được coi là cơ quan Trung ương Hội.

          Điều 9. Ban lãnh đạo các cấp được thành lập thông qua các cuộc bỏ phiếu của các đại biểu Đại hội các cấp. Các Nghị quyết được thông qua tại các Đại hội sẽ được Ban lãnh đạo thực hiện trong thời gian giữa các kỳ họp của mình. Ban Lãnh đạo chịu trách nhiệm và báo cáo về các hoạt động của mình cho Đại hội cũng cũng các chủ đề dưới sự giám sát của họ. Hội Chữ thập đỏ cấp cao chỉ đạo hoạt động của các cấp dưới của mình.

          Điều 10. Trung ương Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc có Chủ tịch và Phó Chủ tịch danh dự, được Ban lãnh đạo bổ nhiệm.

          Điều 11. Trung ương Hội Chữ thập đỏ Trung quốc có vai trò hợp nhất của một cơ quan đại chúng. Các chi nhánh Chữ thập đỏ ở các cấp địa phương và các ngành công nghiệp sẽ được hỗ trợ phù hợp với luật pháp.

 

CHƯƠNG 3. CÁC NHIỆM VỤ

 

          Điều 12. Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc có các nhiệm vụ sau đây:

1. Chuẩn bị cứu trợ thiên tai, cấp cứu những người bị thương, bị ốm và những nạn nhân khác trong thiên tai hoặc trong trường hợp khẩn cấp;

2. Tuyên truyền kiến thức về y tế và sơ cấp cứu, tiến hành đào tạo chăm sóc sức khỏe ban đầu và sơ cấp cứu, tổ chức các phương tiện thông tin đại chúng về các hoạt động sơ cấp cứu, tham gia các chương trình truyền máu và hiến máu, tuyên truyền hiến máu và thực hiện các dịch vụ nhân đạo khác;

3. Thực hiện các hoạt động thanh niên Chữ thập đỏ;

4. Tham dự vào các hoạt động cứu trợ quốc tế;

5. Phổ biến rộng rãi các Nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, các Công ước Geneva và các Nghị định thư bổ sung;

6. Hoàn thành các nhiệm vụ đã được Chính phủ giao phó, phù hợp với các Nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế;

7. Thực hiện nhiệm vụ của mình phù hợp với các điều khoản của các Công ước Geneva và các Nghị định thư bổ sung.

          Điều 13. Hội có quyền giao dịch và phân phát các hàng cứu trợ đã được chấp nhận. Liên quan đến các đóng góp về tiền và hàng, Hội sẽ tôn trọng các mong muốn của các nhà tài trợ.

          Điều 14. Trong trường hợp thiên tai hoặc khẩn cấp, người, hàng và các phương tiện tham gia các hoạt động cứu trợ và có phù hợp Chữ thập đỏ có quyền ưu tiên.

          Điều 15. Không có một tổ chức nào hoặc một cá nhân nào được cấm hoặc cản trở việc thực hiện các nhiệm vụ theo pháp luật của nhân viên Chữ thập đỏ bằng cách dùng bạo lực hoặc đe dọa sẽ bị buộc tội là tội phạm theo Điều 157 của Luật Hình sự. Người nào cản trở nhưng không dùng bạo lực hoặc đe dọa sẽ bị phạt theo Điều 19 của Các quy định về các Hình phạt Hành chính cho sự án ninh nơi công cộng.

 

CHƯƠNG 4. BIỂU TƯỢNG

 

          Điều 16. Phù hiệu Chữ thập đỏ có vai trò bảo vệ và nhận biết. Khi được sử dụng cho mục đích bảo vệ, nó giúp để phân biệt nhân viên và người cần phải được tôn trọng và bảo vệ trong cuộc xung đột vũ trang. Việc sử dụng loại này được giám sát bởi các điều khoản thích hợp của các Công ước Geneva và các Nghị định thư bổ sung. Khi sử dụng cho mục đích nhận biết, nó giúp để phân biệt những người và các đối tượng được gắn với các hoạt động của Chữ thập đỏ. Việc sử dụng loại này được Hội đồng Nhà nước của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định.

          Điều 17. Các điều khoản quản lý việc sử dụng phù hiệu Chữ thập đỏ cũng được áp dụng đối với những nơi sử dụng phù hợp Trăng lưỡi liềm đỏ do tín ngưỡng tôn giáo.

          Điều 18. Việc sử dụng phù hiệu Chữ thập đỏ của quân đội tuân theo các điều khoản thích hợp của các Công ước Geneva và các Nghị định thư bổ sung.

          Điều 19. Việc lạm dụng phù hiệu Chữ thập đỏ bị nghiêm cấm. Trong trường hợp bị lạm dụng, Hội Chữ thập đỏ có quyền yêu cầu chấm dứt sử dụng. Trong trường hợp từ chối, Hội có thể yêu cầu Chính phủ giải quyết phù hợp với các quy định và luật pháp.

 

CHƯƠNG 5. CÁC NGUỒN KINH PHÍ VÀ TÀI SẢN

 

          Điều 20. Hội có các nguồn kinh phí chủ yếu từ:

1) Hội phí của hội viên;

2) Các đóng góp về tiền mặt và hàng từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước;

3) Thu nhập từ tài sản lưu động và cố định;

4) Các ngân sách từ Chính phủ;

 

          Điều 21. Nhà nước hỗ trợ các dự án phúc lợi xã hội, Hội quản lý phù hợp với mục tiêu và mục đích của mình.

          Điều 22. Hội có thể kêu gọi các đóng góp cho các hoạt động cứu trợ của mình.

          Điều 23. Hội nhận các hàng hóa và nguyên vật liệu được đóng góp cho cứu trợ xã hội và phúc lợi công cộng được hưởng sự ưu đãi như giảm thuế và miễn thuế theo các điều khoản thích hợp của Nhà nước.

          Điều 24. Hội sẽ thiết lập cơ chế kiểm tra và giám sát các nguồn kinh phí của mình. Hội sẽ sử dụng các nguồn kinh phí theo các phương thức phù hợp với mục tiêu và mục đích của mình. Hội sẽ thiết lập cơ chế kiểm tra và giám sát đặc biệt các nguồn đóng góp tiền mặt và hàng. Báo cáo hàng năm về các nguồn tài chính và việc sử dụng chúng sẽ được đệ trình thường xuyên lên Ban lãnh đạo.

          Điều 25. Việc sử dụng các nguồn kinh phí của Hội sẽ chịu sự kiểm tra và giam sát của Chính phủ theo các quy định và pháp lệnh phù hợp.

          Điều 26. Không có các tổ chức và cá nhân nào được quyền chiếm dụng và biển thủ các nguồn kinh phí và tài sản của Hội.

 

CHƯƠNG 6. CÁC ĐIỀU KHOẢN BỔ SUNG

 

          Điều 27. Các nguyên tắc cơ bản của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế” được nhắc đến trong luật hiện hành là 7 nguyên tắc cơ bản được thiết lập trong các Quy chế của Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, được thông qua trong Hội nghị quốc tế lần thư 25 của Chữ thập đỏ tại Geneva vào tháng 10 năm 1986; 7 nguyên tắc đó là: Nhân đạo, Vô tư, Trung lập, Độc lập, tính Tự nguyện, Thống nhất và Toàn cầu.

          “Các Công ước Geneva” đã được nhắc đến trong luật hiện hành là 4 Công ước Geneva được thông qua vào ngày 12 tháng 8 năm 1949, mà Trung Quốc là một thành viên tham gia, các Công ước đó là: Công ước Geneva về cải thiện số phận người bị thương, bị ốm trong các lực lượng vũ trang trên chiến trường; Công ước Geneva về cải thiện số phận người bị thương, bị ốm và đắm tàu trong các lực lượng vũ trang trên biển; Công ước Geneva về đối xử với tù binh chiến tranh và Công ước Geneva về bảo vệ dân thương trong thời gian chiến tranh.

          “Các Nghị định thư bổ sung” được nhắc đến trong luật hiện hành là các Nghị định thư bổ sung cho các Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, đề cập tới việc bảo vệ các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang quốc tế và Nghị định thư bổ sung của các Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, đề cập tới việc bảo vệ các nạn nhân của các cuộc xung đột không mang tính chất quốc tế, đã được ký kết vào ngày 8 tháng 6 năm 1977 và Trung Quốc là thành viên tham gia.

          Điều 28. Luật này có hiệu lực kể từ ngày được ban hành.



[1] Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 14 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI đã diễn ra trong 02 ngày 7-8/4/1998 nhằm tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế cần khắc phục trên cơ sở đó có những chủ trương, giải pháp đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện, phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong thời kỳ mới. Đồng thời, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Hội cũng là sự ghi nhận những cống hiến xuất sắc của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Hội chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ VIII.

 

[3] Hiện chưa có văn bản có chứa qui phạm qui định về cơ chế phối hợp, phân định trách nhiệm giữa Ban Chỉ đạo vận động nhân dân hiến máu tình nguyện và Viện Huyết học - Truyền máu trung ương, giữa Trung tâm truyền máu khu vực Trung tâm hiến máu nhân đạo của Hội Chữ thập đỏ.

[4] Công ty trách nhiệm hữu hạn Điện thoại và Điện tín quốc tế.

[5] Công ty truyền thanh Nhật Bản

 
Hội chữ thập đỏ khác:
CÔNG ĐOÀN - 17 NĂM MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN (05/8/2017)
Đoàn trường THPT Nguyễn Thị Bích Châu tổ chức hội thi (11/3/2016)
Kết quả xếp loại thi đua tuần học thứ 15 (19/12/2015)
Kết quả cuộc thi Viết về thầy cô và mái trường 2012 (7/2/2013)
XẾP LOẠI THI ĐUA HỌC KỲ I NĂM HỌC 2012 - 2013 (17/1/2013)
Kết quả thi đua tháng 9 (8/1/2013)
Tổng kết thi đua tháng 12 (8/1/2013)
Thi đua tuần 17 (8/1/2013)
QUY ĐỊNH THI ĐUA VÀ CÁCH TÍNH ĐIỂM (27/12/2012)
XẾP LOẠI THI ĐUA TUẦN 16 (24/12/2012)
Ke hoach giai bong da nu (24/12/2012)
MỘT SỐ VĂN BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ HỘI CHỮ THẬP ĐỎ VIỆT NAM (21/12/2012)
Dánh sách chi hội trưởng, chi hội phó các chi hội năm học 2012-2013: (21/12/2012)
DANH SÁCH BCH HỘI CTĐ TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ BÍCH CHÂU NĂM HỌC 2012-2013 (21/12/2012)
KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG HỘI CHỮ THẬP ĐỎ Năm học 2012- 2013 (21/12/2012)
Video clips
Tra cứu thông tin
Tra cứu thông tin website
Tra cứu văn bản
Thư viện giáo án điện tử
Liên kết Website
Hỗ trợ trực tuyến

Văn Phòng - 0396.577.388

Ngọc Hà - 0982.76.77.88
Truy cập hôm nay: 273
Tất cả: 6510074
Trang chủ   l   Giới thiệu chung   l   Tổ chức Nhà trường   l   Tin tức - Sự kiện   l   Thông báo - Lịch công tác   l   Bản tin công khai   l   Diễn đàn
 
© Copyright 2012-thptnguyenthibichchau.edu.vn , All rights reserved
® thptnguyenthibichchau.edu.vn giữ bản quyền nội dung trên website này.
Địa chỉ: Kỳ Thư - Kỳ Anh- Hà Tĩnh
Điện thoại: 0396577388; 0982.76.77.88
Website xem tốt nhất trên trình duyệt  Internet Explorer