Trang chủ
Liên kết Website
GIỚI THIỆU CHUNG - THPT NGUYỄN THỊ BÍCH CHÂU Bản in
 
Nguyễn Thị Bích Châu
Tin đăng ngày: 9/10/2012 - Xem: 10347
 

Tên thật  : Nguyễn Thị Bích Châu
Tộc danh  : Bích Lưu
Biệt hiệu  : Phù Dung - Nguyễn Cơ Bích Châu
Phẩm trật  : Cung phi (ái phi vua Trần Duệ Tông)
Truy phong  : Thần phi – Phu nhân Bích Châu
Năm, nơi sinh : 1356? Không có sử liệu nào viết về quê quán của bà.
Tác phẩm:
-Bản điều trần dâng vua, nhan đề Kê minh thập sách (bằng chữ Hán)
-Bài biểu dâng vua (chữ Nôm)

1

Truyền rằng bà Bích Châu là con gái cưng của vị quan họ Nguyễn, một cận thần dười triều Trần.

Bà được cha mẹ nâng niu đặt tên Nguyễn Thị Bích Châu, tự là Bích Lưu. Ngụ ý con gái cảu ông bà quí giá sánh với châu ngọc, lưu ly ở trên đời.

Nàng Bích Châu sớm nổi tiếng thông tuệ. Giỏi văn chương thi phú, thạo âm nhạc.

Càng lớn, nhan sắc nàng Bích Châu càng diễm lệ, lại có một khối óc nhận xét rất tinh vi, xuất sắc.

Năm 16 tuổi (khảong 1372) được cha dâng biểu cho tiến cung; từ đó nàng Bích Châu được làm cung phi chầu hầu bên vua Trần Duệ Tông, lúc đàn ca, khi ngâm vịnh, được nhà vua rất đỗi thương yêu, gọi là Nguyễn Cơ Bích Châu. Sau lại phong tặng là ái phi, thường gọi ái phi Bích Lưu hay ái phi Bích Châu.

Một hôm, nhân tiết trung thu, nàng Bích Châu bày tiệc nhỏ trên gác tía, chung quanh treo lồng sắc trắng chen đủ màu rất đẹp.

Vua Duệ Tông tỏ vẻ hài lòng hết ngắm trăng lại ngắm đèn, bỗng nhà vua cao hứng ra câu đối:

"Trời thu gác tía treo đèn bạc, quế đỏ trong trăng"

Hàng quan dự tiệc đều buông đũa suy nghĩ. Họ đang mải miết tìm vần thì cung phi Bích Châu đã chắp tay, cất tiếng:

-Tâu thánh thượng, thần thiếp xin kính đối:

“Sắc xuân đài trang mở gương báu, phù dung đáy nước”

Vua đắc ý khen hay và thưởng cho đôi “ngọc long kim nhĩ” (hoa tai vàng cẩn ngọc hình rồng nổi) và nhân đó lại đặt biệt hiệu cho nàng là Phù Dung.

Sau thời gian ngắn ở chốn hoàng cung, ái phí Bích Châu nhận thất đức quân vương tính nóng nảy, thiếu bản lĩnh, triều chinh đang có nguy cơ rạn nứt suy sụp, nàng đăm chiêu chú tâm soạn thảo bản điều trần dâng vua, nhan đề: “Kê minh thập sách” nêu 10 kế sách trị nước an dân. Đại ý mượn tiếng gà gáy sáng để thức tỉnh nhà vua, với những lời tâm huyết được trải ra từng câu, ví như:

…Nhất viết, phù quốc bản, hà bạo khứ tắc nhân tâm

Dịch:
(Điều một - bền gốc nước, trừ kẻ bạo thỉ dân chúng được yên).

Tứ viết - thải nhũng lại dĩ tính dân ngự

Dịch:
(Điều bốn - đuổi bọn quan lại tham nhũng để bớt vơ vét của dân)
(Trích Kê minh thập sách)

Xem xong bản điều trần của ái phi Bích Châu, nhà vua cảm kích vỗ trán thốt lên:

-Không ngờ ái phi lại thông tuệ đến thế? May cho trong cung của trẫm xuất hiện một bậc Từ Phi (vợ Đường Thái Tông bên Tàu nổi tiếng văn chương).

Nhưng sau đó, bản điều trần ấy không được vua quan tâm đến nên chẳng
thực hiện một điều nào, thật đáng tiếc.

Năm 1376, đất nước ta bị quân Chiêm Thành (Chế Bồng Nga) thường sang gây hấn quấy rối. Mùa Đông năm đó giặc lại tràn sâu vào lãnh địa của ta phá phách rất hung bạo.

Vua Duệ Tông giận dữ xuống chiếu ngự giá thân chinh đi dẹp giặc. Nàng Bích Châu bồn chồng lo lắng dâng biểu khuyên can.

Rồi nàng lại viết tiếp đoạn ngắn nhắc nhở nhà vua:

“…Việc trị đạo nước trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng yên hàn. Trị cái rắn nên dùng cái mềm, phục rợ xa cốt lất đức… Đó là thượng sách, xin hoàng thượng xét đoán cho minh.”

Bài biểu dâng lên cũng không lay chuyển nổi nhà vua. Cung phi Bích Châu buồn lo than thở:

“…Nghĩa lớn là vua tôi, ái tình là vợ chồng. Vậy mà không giỏi khuyên can để giữ nền bình trị, không biết khéo lời để ngăn lòng hiếu chiến, như thế ta đã là người vô dụng chăng?”

Biết nhà vua nhất định không chịu nghe, nàng đành xin đi theo hộ giá. Lại truyền rằng buổi xuất binh ngày ấy cờ xí rợp trời, chiêng trống dậy đất, truyền rằng trùng trùng lớp lớp, binh sĩ gương giáo sáng loáng, hùng khí chất ngất từng mây.

Nhưng khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa bể Kỳ Hoa (Kỳ Anh Nghệ Tĩnh) trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp. Đoàn thuyền đành tạm neo ngay lại đấy. bởi mặt biển thường nổi sóng cao và xoáy lốc, ngay sát bờ đã là dãy vực thẳm đầy đá nhọn, ra càng xa thì vực càng sâu, lòng biển lởm chởm hàng khối đá ngầm.

Binh thuyền phải vất vả thương tổn khá nhiều mới ràng nổi dây neo. Nhưng cơn dông bão vẫn dai dẳng càng lúc càng dữ dội hơn. Đoàn thuyền chiến nhấp nhô đập chúi vào nhau rầm rầm? Nhiều cái bị đứt dây, lao đi vùn vụt đâm vào đá vỡ toang. Quân lính lớp chết, lớp kêu la chới với. Số còn sống ai nấy đều kinh hãi nản lòng. Nhà vua nhất quyết đợi tan cơn bão sẽ tiến binh tiếp. Nàng Bích Châu sợ hãim đứng ngồi không yên. Chợt nàng thoáng nghe chuyện thần biển đòi mỹ nữ. Trong lúc cấp bách, nàng thảng thốt vừa quả cảm nghĩ ngay việc liều mình để giữ quân kỷ và thể diện nhà vua, giúp đất nước. Nàng Bích Châu liền tâu vua cho phép nàng được hiến thân cho thần biển; cầu xin thần phù hộ quân nhà vua sớm toàn thắng.

Vua Duệ Tông bàng hoàng chưa kịp phán bảo cản ngăn thì nàng Bích Châu đã nhanh nhẹn quay ra thuyền lệnh: 

“… Các quan mau mau sửa soạn lễ vật cúng thần biển, kính báo thời khắc thiếp tôi được nhà vua cử làm sứ giả đi gặp thần biển xin sóng lặng bể yên phù trợ cho vua quan, quân lính nhà Trần được chiến thắng dịp này, đem bình an về cho đất nước”

Nàng vừa dứt tiếngthì từ nhà vua đến các quan có mặt quanh đó đều sửng sốt, nghẹn lời…

Mặc hết những lời can ngăn, nàng Bích Châu vẫn một mực tha thiết tâu xin cho nàng có dịp được vinh hạnh phò vua, giúp quân, đền nợ nước.
Không làm sao hơn, tất cả đều nén lòng nghe theo ý chí cương quyết của cung phi Bích Châu. Một cung nữ tài sắc, mới kề cận nhà vua được bốn năm, được vua Duệ Tông sủng ái rất mực như vậy mà dám lìa bỏ tất cả, can đảm hy sinh tính mạng thì thật là một việc làm quá phi thường.

Trước tình cảm vua tôi bi thiết, ngoài khoang bão sấm sét vẫn đùng đùng long trời lở đất. Sóng biển vẫn gần hú, bổ vào mạn thuyền.

Chiếc thuyền rồng chao đảo ngả nghiêng. Nàng Bích Châu thản để thị nữ xông trầm, trang điểm cho mình. Thoáng chốc, nàng đã trâm thoa, xiêm gấm, hài thêu lộng lẫy bước ra…

Trước mắt mọi người lúc này, vẻ đẹp của nàng Bích Châu đang tỏa ánh hào quang như một vị thiên thần. Phải, chính đó là một vị ái phi mới 20 tuổi của nhà vua, giai nhân tuyệt sắc ấy đang đứng ở vị thế là một nữ dũng tướng của quan quân triều Trần Duệ Tông (thuộc thế kỉ 14).

Vua Duệ Tông xót trút bỏ giáp trụ, thương cảm trong lớp hoàng bào. Ngài trịnh trọng đội mũ triều thiên để kính cẩn đưa tiễn nàng ái phi dũng cảm ra đi. Nhà vua nén thương đau phong tặng nàng là Thần phi.

Mặc cho sóng đánh tối tấp, nước tràn lênh láng, nàng Bích Châu vẫn tươi tắn đến sụp quì lạy đức quân vương, cầu chúc nhà vua bình tĩnh và đại thắng, rồi quay về hướng Bắc lạy cha mẹ, vái chào tử biệt hàng quan quân, trang nghiêm đến ngồi gọn vào trong lòng chiếc thuyền thoi nhỏ nhắn có cắm đại hoàng kỳ (cờ nhà vua). Chiếc thuyền được quan quân thòng dây thả từ từ xuống biển, giữa những cơn sóng thần liên tiếp quật nước lên cao. Nàng Bích Châu bình tĩnh nắm dây nhắm mắt.

Vừa đụng nước, chiếc thuyền lập tức quay vòng ngụp lặn với sóng cả rồi chìm lỉm mất hút. Đem theo một trái tim rực rỡ ánh châu ngọc lưu ly nhập cõi thuỷ tận.

Gió vẫn hú, sóng vẫn gầm… hoà rền rền cùng tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng quan quân nức nỡ khấn lạy vị thần phi. Âm thanh lừng lừng nào động ấy cũng không át nổi tiếng gào của nhà vua réo gọi ái phi Bích Châu!

Đặc biệt trong cơn hoảng loạn ấy nhà vua tức tưởi nhắc đến bản điều trần của ái phi với trần đầy tiếc nuối…

Hai ngày sau bão mới ngớt, xác phu nhân Bích Châu nổi trên mặt biển, vẫn uy nghi trong bộ triều phục, nhấp nhô theo làn sóng bạc trôi dần vào bờ, được dân làng vớt lên rước đi an táng tại làng Kỳ Hoa. Cũng là lúc mà đoàn thuyền chiến của vua Trần Duệ Tông đã lướt tiến khá xa, chở đầy những bầu máu nóng sẵn sáng lao vào trận tiền với quyết tâm diệt giặc giữ yên bờ cõi, đền bù tâm nguyện của phu nhân Bích Châu trước giờ tử biệt.

Đến nay, tại làng Kỳ Hoa vẫn còn thờ, thờ thần phi Bích Châu.

Thần phi Nguyễn Thị Bích Châu đã ra đi từ gần 7 thế kỷ qua, nhưng tấm gương hi sinh vì nước, vì dân của bà vẫn còn chói sáng đến muôn đời sau.

Phần sáng tác của bà Bích Châu, tuy còn lại rất ít, nhưng chỉ với bài “Kê minh thập sách” đã chứng tỏ ngòi bút sắc bén của cung phi nữ sĩ Bích Châu đáng bậc nữ lưu văn học dưới triều Trần Duệ Tông.

Nữ sĩ cung phi Bích Châu đã thực sự đóng góp vào nền văn học nước nhà nói chung và nền văn học viết từ đời Trần của giới nữ nói riêng, một áng văn bác học tinh tế. Lời văn hùng hồn và thiết thực có giá trị như một ngọn đuốc soi đường cứu đất nước một cách tích cực, tỏ rõ tâm hồn tha thiết yêu nước thương dân của nữ sĩ cung phi Bích Châu.

TÁC PHẨM CÒN LẠI CỦA NỮ SĨ CUNG PHI BÍCH CHÂU:

Bài Kê minh thập sách, được phiêm âm như sau:

Nhất viết : Phù quốc bản, hà bạo khứ, tắc nhân tâm khả an.

Nhì viết : Thủ cựu qui, phiền nhiễu cách tắc triều cường bất vẩn.

Tam viết : Ức quyền hành dĩ trừ quốc đố.

Tứ viết : Thải nhũng lại, dĩ tính dân ngự.

Ngũ viết : Nguyện chấn nho phong, sử tước hoả dữ nhật nguyện nhị tịnh chiếu.

Lục viết : Nguyện cầu trực gián, hội thành môn dữ ngôn lộ nhi tịnh khai.

Thất viết : Luyện binh đương tiên dũng lực nhi tả thân tài.

Bát viết  : Tuyển tướng nghi hậu thế gia, nhi tiên thao lược.

Cửu viết : Khi giới qui kỳ khiên nhuệ, bất tài thi hoa.

Thập viết : Trận pháp giáo dĩ chỉnh tề, hà tu vũ đạo.

Dịch nghĩa:

Điều một: Bền gốc nước, trừ kẻ bạo thì dân chúng được yên.

Điều hai: Giữ nếp xưa, phiền nhiễu nên bỏ thì triều cương không rối.

Điều ba: Ngăn kẻ lạm quyền để trừ mọt nước.

Điều bốn: Loại bọn quan tham nhũng để bớt vơ vét của dân.

Điều năm: Mở lối nho phong để ngọn lửa đóm được soi cùng mặt trời mặt
trăng.

Điều sáu: Tìm những lời trực gián để đường ngôn luận được rộng mở như cửa thành.

Điều bảy: Rèn luyện binh sĩ cần lất hạng có dũng lực hơn là hạng vóc vạc lớn.

Điều tám: Chọn tướng trước nên lựa người thao lược sau mới đến là bậc thế gia.

Điều chín: Khí giới cốt tinh nhuệ hơn là lòe loẹt.

Điều mười: Tập trận pháp cần chỉnh tề không cần múa nhảy.

Theo Danh nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh

________________________

Bài biểu (chữ Nôm) can vua không nên đi đánh Chiêm Thành lúc đó (1376)

… Thiếp trộm nghĩ… vì cướp bóc là cái thói thường của man di, mà dùng binh nghi không phải bản tâm của vương giả. Nhỏ xíu kia Chiêm Thành. ở mé nơi hải đạo. Năm xưa kéo quân vài nhị Thuỷ nhòm thấy nước ta bất hoà, khi ấy tiếng trống động ngoài biển, chỉ vì lòng dân chưa yên… Việc trị đạo nước gộc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng yên hàn… Đó là thượng sách, xin xét đoán cho minh.

 
THPT Nguyễn Thị Bích Châu khác:
Truyện cổ: Nguyễn Thị Bích Châu (11/11/2012)
Nguyễn Thị Bích Châu từ văn chương đi vào lịch sử (11/11/2012)
Nguyễn Thị Bích Châu (9/10/2012)
Huyện Kỳ Anh - tỉnh Hà Tĩnh (14/9/2012)
Video clips
Tra cứu thông tin
Tra cứu thông tin website
Tra cứu văn bản
Thư viện giáo án điện tử
Liên kết Website
Hỗ trợ trực tuyến

Văn Phòng - 0396.577.388

Ngọc Hà - 0982.76.77.88
Truy cập hôm nay: 158
Tất cả: 6456241
Trang chủ   l   Giới thiệu chung   l   Tổ chức Nhà trường   l   Tin tức - Sự kiện   l   Thông báo - Lịch công tác   l   Bản tin công khai   l   Diễn đàn
 
© Copyright 2012-thptnguyenthibichchau.edu.vn , All rights reserved
® thptnguyenthibichchau.edu.vn giữ bản quyền nội dung trên website này.
Địa chỉ: Kỳ Thư - Kỳ Anh- Hà Tĩnh
Điện thoại: 0396577388; 0982.76.77.88
Website xem tốt nhất trên trình duyệt  Internet Explorer